VIET CURRENCY

Những chia sẻ của Anh Việt Currency trong phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản – Phần 01

1. Chỉ báo về giao động (Volatility Indicators)

• Average True Range

• Bollinger Bands

• Commodity Channel Index

• Moving Average (Variable)

• ODDS Probability Cones

• Relative Volatility Index

• Standard Deviation

• Standard Error Bands

• Volatility, Chalkin’s

2. Chỉ báo về xung lượng (Momentum Indicators)

• Accumulation Swing Index

• Chande Momentum Oscillator

• Commodity Channel Index

• Dynamic Momentum Index

• Intraday Momentum Index

• Linear Regression Slope

• MACD

• Mass Index

• Momentum Indicator

• Price Oscillator

• Price Rate-Of-Change

• Random Walk Index

• Range Indicator

• Relative Momentum Index

• Relative Strength Index(RSI)

• Stochastic Momentum Index

• Stochastic Oscillator

• Swing Index

• Trix

• Ultimate Oscillator

• Williams’ %R

• Williams’ Accumulation-Distribution

3. Chỉ báo theo chu kỳ (Cycle Indicators)

• Cycle Lines

• Detrended Price Oscillator

• Fibonacci

• Fourier Transform

• MESA Sine Wave Indicator

4. Chỉ báo cường độ thị trường (Market Strength Indicators)

• Accumulation-Distribution

• Chaikin Money Flow

• Chaikin A/D Oscillator

• Demand Index

• Ease of Movement

• Herrick Payoff Index

• Klingler Oscillator

• Money Flow Index

• Moving Average (Volume Adjusted)

• Negative Volume Index

• On Balance Volume

• Open Interest

• Positive Volume Index

• Price Volume Trend

• Trade Volume Index

• Volume

• Volume Oscillator

• Volume Rate-Of-Change

5. Chỉ báo mức hỗ trợ và kháng cự (Support and Resistance Indicators)

• Andrew’s Pitchfork

• Envelope

• Fibonacci Arcs, Fans, Retracements

• Gann Lines, Fans, Grids

• Ichimoku Kinko Hyo

• Projection Bands

• Projection Oscillator

• Quadrant Lines

• Speed Resistance Lines

• Tirone Levels

• Trendlines

6. Chỉ báo về xu hướng (Trend Indicators)

• Aroon

• Commodity Selection Index

• DEMA

• Directional Movement

• Forecast Oscillator

• Linear Regression Indicator

• Linear Regression Slope

• Linear Regression Trendline

• MACD

• Moving Averages (all methods)

• Parabolic SAR

• Performance

• Polarized Fractal Efficiency

• Price Oscillator

• Qstick Indicator

• r-squared

• Raff Regression Channel

• Standard Deviation Channel

• Standard Error

• Standard Error Bands

• Standard Error Channel

• TEMA

• Time Series Forecast

• Vertical Horizontal Filter

Originally Posted by VietCurrency

Một trading signal phải có ÍT NHẤT là 3 điều

• Formation

• Momentum

Market Sentiment

thì xác xuất thành công mới cao. Khi nào đủ 3 yếu tố đó thì mới xuất chiêu. Ra chiêu sớm khi chưa đủ công lực (3 yếu tố chính phía trên) thì không mà dứt điểm đối thủ lắm. Trong các derivative markets như Vàng, Oil, Currency toàn là cao thủ của TA nằm trong đó. Nếu bác thấy được cái này thì họ cũng ĐÃ THẤY rồi. Cho nên không dể ăn như bên stocks đâu. Sự thắng thua trong các markets này thường xuất phát từ lý do thứ 3: MARKET SENTIMENT. Chứ không phải từ charts. Đó là tại sao phần lớn traders thua trong derivative markets. Lý do thứ 3 đòi hỏi một sự phân tích xuyên market để thấy the real $ đang, hay có thể, sẽ làm gì.

Originally Posted by VietCurrency

Giá trên thị trường là 2-dimensional object. Đó là tại sao trên chart có hai cột X & Y. Tại vì giá gồm có thời gian. Take a first derivative of price (theo toán học) sẽ là momentum. Hay nói chính xác hơn thì momentum là RATE OF CHANGE OF PRICE. Hay chính xác hơn là mỗi ngày qua sự thay đổi của giá có TĂNG so với ngày hôm trước hay không? Rate of change là vật SLOW DOWN trước khi giá thật sự slow down. Trong TA nó có 3 loại phân tích: formation, trend, momentum. Formations là hình dáng mà bạn phải nhận ra để nhớ. Sau đó là bạn xài trend indicators để dò hướng đi. Cuối cùng là bạn xác nhận hướng đi đó với momentum. Momentum là sức mạnh của hướng đi. Đó là 3 điều cơ bản mà bạn cần biết trước khi phân tích chart. Formation được tăng thêm tín nhiệm (credibility) khi nó được hai loại indicators trend & momentum xác định. Thí dụ như bạn thấy một break out mà bạn nghi là a bull trap thì bạn có thể xài hai loại indicators ở trên mà gạn lọc nó. Nếu gạn lọc được rồi thì bạn mới quả quyết nó là gì. Bằng không thì bạn rất sẽ khó biết cho đến khi nó xảy ra.

Originally Posted by Stockchart

Momentum Oscillators

Many leading indicators come in the form of momentum oscillators. Generally speaking, momentum measures the rate-of-change of a security’s price. As the price of a security rises, price momentum increases. The faster the security rises (the greater the periodover-period price change), the larger the increase in momentum. Once this rise begins to slow, momentum will also slow. As a security begins to trade flat, momentum starts to actually decline from previous high levels. However, declining momentum in the face of sideways trading is not always a bearish signal. It simply means that momentum is returning to a more median level.

Học kiến thức căn bản thì nên bắt đầu từ đâu vậy anh VC?

   Học “market sentiment” thật khó, cách học hiện tại của chucuoi như sau: đọc tài liệu về kinh tế vi mô, vĩ mô, tài liệu căn bản về thị trường tài chính- tiền tệ, tài liệu định nghĩa, tầm quan trọng của các chỉ số kinh tế ( giống như bài viết về ISM của anh VC hôm qua), hàng ngày đọc bản tin, phân tích của người khác, rồi sau này bắt chước viết giống như vậy, chỉ có điều toàn xài đồ free nên không biết chất lượng tốt không, nhưng với trình độ của mình thì thấy vậy là tốt rồi. Cách học như vậy còn thiếu sót gì không nhỉ? Các bác có đề nghị cái khác tốt hơn không?

   VC: Chú hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai bi giờ. Mấy cái này nó nằm hết trong đầu tôi từ lúc nào không biết. Hồi đó tôi có nói với chú một lần rồi. Đó là kinh nghiệm nó tích lũy từ nhiều năm qua. Tôi có thể liên kết các câu chuyện tài chánh từ thị trường này sang thị trường khác, hay có thể pick up một tin nào đó nhìn nó dưới một dạng khác. Và dùng information đó để trade. Tôi phân tích VN market cũng bằng cái này mà thôi. Chú cũng thấy. Tôi đâu có biết gì về VN, chứ đừng nói là VN market. Nhưng thị trường nào nó cũng có cái nét hao hao giống nhau, cho dù đó là một thị trường mới như VN hay là một mature market như USA. Vì market là một kết quả của một đám đông cấu tạo thành. Con người ở đâu cũng thế thôi. Có nghĩa là cũng có những lúc yếu mềm như nhau. Tham & Sợ đều giống nhau hết. 

   Market Sentiment rất khó: Đúng rồi. Vì đây là bước chót của quá trình phân tích dử kiện. Đó là INSIGHT OBSERVATION mà. Chú cũng rất thông minh đấy. Một năm về trước tôi mới gặp chú. Chú còn rất ngáo trong trading. Một năm sau chú lò tò đi học market sentiment rồi. Chiêu này rất khó học vì nó đòi hỏi sự liên kết các dử kiện lại với nhau và tìm ra ý nghĩa. Khi hiểu ý nghĩa đó rồi thì mới biết nên làm gì. Wall Street có câu: INFORMATION IS FREE; KNOWLEDGE IS PRICELESS. Đừng lầm lẫn information và knowledge. Bước chót của trading là transform information lượm được sang  trading signals. No…Unwinding không phải là trade ngược. Trong tiếng Anh, prefix UN có nghĩa là làm ngược lại hay là không. Unwinding là một tiếng lóng trong trading nói lên một trạng thái tháo gở những gì đã có. Giống như bác đang xây cái nhà (carry trade). Bây giờ bác tháo gở nó ra (unwinding). Traders là một thế giới nhỏ thu gọn. Họ đẻ ra nhiều danh từ thoáng qua thì rất vô nghĩa, nhưng nó lên đầy đủ cảm tính của việc làm. Trong trường hợp này unwinding cũng giống như là một hành động CLOSING OUT A POSITION. 

   Còn trade ngược thì có nghĩa là đi ngược hướng. Nó mang nhiều tính chất OPENING A POSITION và aggressive nhiều, hơn là chỉ đơn giản closing out những gì mình đã có. Market sentiment hiện tại nói lên cho bác biết. Nếu bác đã và đang có carry trade thì bác nên unwind nó thôi, chưa đến mức bác cần trade ngược đâu. Bác cho tôi hỏi nè. Nếu NFP mà thấp như thế thì viễn ảnh một phân lời được cắt sẻ tăng rất cao. In fact, cách đây chừng 1 tuần xác xuất của một Fed cut 50 bpts hầu như rất nhỏ. Nhưng sau khi chỉ số này ra thì nó vọt lên rất cao. Nếu sự lên xuống của USD tùy thuộc vào phân lời, và tương lai là một lower rate, thế thì hôm nay tại sao USD lại lên cao?

 NFP gồm có 3 chỉ số chính:

 Employment number

 Unemployment rate

 Hourly wage

   Cả 3 con số này đều quan trọng. Nhưng tùy lúc mà 1 trong 3 con đó lại quan trọng hơn 2 con kia. Một NFP ra mà được xem là “bình thường” thì cả 3 con phải đúng như market nhận. Nếu trật là market sẽ giao động. Traders luôn xem 3 con này riêng rẻ. Tại vì mỗi con số nó nói lên một khía cạnh khác của sự kiện. Stock traders thường xem con số đầu (employment number). Tại vì stock market là một bộ phận của kinh tế. Khi số người có việc làm tăng hay giảm nó ảnh hưởng trực tiếp vào nguồn máy này. Bond market và các thị trường derivative khác thì coi trong 2 con số còn lại. Lý do là căn bản của các thị trường này là hedging. Hedging là đồng nghĩa với cost (chi phí). Và chi phí tăng giảm thường phụ thuộc vào rate. Rate đây có nghĩa là market rate, vì market rate rất nhạy cảm với market expectation. Market expecation thì được dựa vào sự phân tích trước và sau khi chỉ số kinh tế được công bố.

 Ngày hôm qua: Friday Jan 4th, 2008

Trong 3 chỉ số đó, ngày hôm qua traders coi trọng chỉ số UNEMPLOYMENT RATE nhiều nhất. Trong kinh tế học thì người ta dạy rằng một optimal economy thường là 7% unemployment. Lý do mà anh không muốn 0% unemployment vì anh cần một co giản của số lượng người đi làm để nó đừng tạo áp lực trên tiền lương. Nếu không có ai thất nghiệp thì khi cần thêm người, anh phải tăng lương thì người ta mới chịu làm cho anh. Cái tăng lương này làm lạm phát tăng. Ngược lại, nếu con số % unemployed nhiều quá thì kinh tế không được xem là efficient. Trong kinh tế Hoa Kỳ, con số magical employment là 5%. Phần lớn của năm 2007 đến giờ con số unemployment rate của US là khoảng < 5%. Hôm qua khi con số job number ra thấp quá cộng thêm một unemployement rate cao hơn dự định thì currency traders lại phản ứng vì con số này. Lý do mà họ xài con số này là vì con số này rất ít giao động so với con số employment number. Nếu anh trade lâu thì anh sẽ thấy rằng con số employemnt thường được sửa lại vào tháng sau. Lý do là lúc nó được công bố, đó chỉ là một con số chung chung thôi. Con số đó chưa là con số chính xác và final. Vào cuối tháng sau khi có một con số mới thì người ta revise nó lại. Ngược lại con số employment rate thì tương đối ổn định hơn.

 Economic

 Nonfarm Payrolls Dec/08:00 AM 18K vs 115K

 Unemployment Rate Dec/08:00 AM 5.0% 4.7%

 Hourly Earnings Dec/08:00 AM 0.4% 0.4%

   Market đã từ lâu có dấu hỏi lớn về ảnh hưởng của cái subprime mortgage trong kinh tế Hoa Kỳ. Nếu anh còn nhớ rằng từ tháng 8 năm ngoái khi subprime mortgage bùng nổ, market đã nhiều lần muốn the FED cut rate liền, và cut nhiều. Nhưng the FED lại chậm chạp trong việc cut rate. Bernanke còn cut discount rate v.v..v thay vì cut Fed fund rate. Kinh tế Hoa Kỳ hơn 70% được liệt kê vào hàng service economy. Service economy lên xuống tùy theo khả năng tiêu xài của người dân. Và khả năng tiêu xài của người Mỹ trong mấy năm qua tùy thuộc vào giá nhà của họ. Khi giá nhà xuống thì khả năng này cũng giảm đi. Lực cầu trong một service economy mà giảm thì số % thất nghiệp cũng tăng. Traders trong khoảng thời gian vừa qua chỉ ước lượng một SLOW DOWN trong kinh tế, chứ không ai nói về một RECESSION. Hôm thứ 4 chỉ số ISM ra quá tệ. Hôm nay môt % unemployment ra khác cao. Nó ở ngay ngưỡng cửa của một recession theo đúng định nghĩa. Đó là tại sao market có phản ứng rất mạnh như thế, chứ không phải chỉ vì con số employment number 18k so với con số dự đoán là 115K. Tôi có thể bảo đảm với anh rằng con số 18K này không có chính xác. Nó cao hơn 18K. Nhưng cao hơn bao nhiêu thì tôi không biết. Anh phải đợi tháng sau khi con số revision ra mới biết. 

 Tai sao USD không rớt?

Trong năm 2007, hai đồng tiền yếu nhất của thế giới là USD & JPY. Lý do mà nó yếu là vì carry trade. Lý do mà traders xài carry trade là: rate differentials & low risk. Rate differentials thì anh biết rỏ. Cái còn lại là risk. Risk ở đây là market risk và thường được đo qua con số beta, hay còn gọi là volatility. Financial markets của thế giới, nói chung, trong năm 2007 không có risk nhiều. Chỉ trừ lúc gần cuối năm khi subprime của Mỹ bùng nổ. Tuy gọi là một rối rắm (mess) trong financial market, nhưng chưa có một scandal nào có thể gây nguy hại đến nền tài chánh thế giới nói chung. Nó không giống như Asian crisis của 98 mà kết quả là một Long Capital Management hedge fund blow up. The Fed học được bài học củ nên họ rất nhiệt tình. Đó là tại sao chỉ vài tuần sóng gió thì carry trade lại được tiếp tục. Nhưng đó là dĩ vãng. Thời gian đó người ta còn chờ đợi một kết quả của cái subprime mortgage. Người ta chưa đo lường được hậu quả của nó trong kinh tế. Sau bữa thứ 6 thì khác. Người ta thấy được, hay ít gì cũng có một tiên đoán. Con số 18K vs. 115K dự đoán của employment number là một con số sai biệt quá lớn. Cộng thêm vào đó là cái % unemployment mà tôi nói phía trên. Carry trade thường chỉ hoạt động trong một môi trường low risk. Tại sao? Tại vì khi anh trade trên rate differentials, anh đang make a DIRECTIONAL BET về hướng đi của phân lời. Cái directional bet đó cần phải hedge. Phần lớn các big currency trading firms không chơi spot. Họ chơi forward để giảm tối đa cái cost. Forward contracts là một illiquid market so với spot. Forward market chỉ liquid khi không có sóng gió. Directional bet trading đòi hỏi hedging. Hegding thì đi chung với chi phí. Giá tiền của hedge sẽ tăng khi risk tăng. Hedge là danh từ nhà nghề cho chữ INSURANCE. Bảo hiểm thường tăng khi thị trường giao động mạnh. Thị trường giao động mạnh khi có những dữ kiện nằm ngoài sự ước lượng của nó. Đó là tại sao US equity market xuống ầm ầm mấy hôm nay. Bên Japan thì the Nikkei rớt xuống khoảng 600 pts trong một ngày. Dựa vào đó, traders thấy rằng world financial market đã hết còn yên lặng như xưa cho nên họ bắt đầu unwind những carry trades của 2007. Thêm vào đấy là bây giờ là 2008. Nếu unwinding carry trade thì có thể hoãn thuế cho đến 2009. Đây là thời điểm tốt nhất để cash out trên phiên diện trading và thuế. Vì thế anh đừng ngạc nhiên khi thấy USD không rớt nhiều như người ta tưởng cho dù chỉ số NFP rất là tệ.

Vài lời chia sẻ…

   PS: Ở đây không có trúng trật đâu chú. Chỉ chia sẻ thôi. Chú chia sẻ trong khả năng của chút là tốt nhất đó. Trình độ mỗi người mỗi khác mà. Miễn sau một năm trước và một năm sau có nhiều tiến bộ là khá rồi. Bi giờ tôi chia sẻ với chú. Sau này tôi bận việc, chú sẽ lên đây nắm chức head trader cho currency của site mà chia sẻ lại.eur libor

 
    Trên thế giới có hai đồng tiền chính làm nơi trú ngụ. USD và CHF. USD là nơi tránh cho các cơn bảo tài chánh không xuất phát từ US, và thường là cơn bảo tài chánh mà thôi. Nếu cơn bảo chính trị thì người ta chạy vào CHF. Lý do là Thụy sĩ luôn được thế giới xem là một quốc gia trung lập trong các cuộc tranh cải về chính trị của thế giới. Riêng trong trường hợp hiện tại tôi không nghĩ rằng người ta chạy vào USD vì muốn tránh bão. USD mạnh trong giai đoạn hiện tại không phải vì một NET LONG, mà là một UNWINDING của mấy chú shorts. Một điều mà tôi thấy phần lớn mấy chú retail traders đang lầm lộn về LÝ DO vàng lên. Họ chỉ chú trọng vào sự kiện USD xuống, tạo ra lạm phát, và vàng được xài để hedge. Ngoài ra, có người thì nói là vàng lên vì các quốc gia như Ấn Độ cần vàng làm nữ trang v…v…Ở đây tôi muốn nói về cái lý do thứ 2: vàng làm nữ trang. Vàng được làm nữ trang thì ai cũng biết, nhất là vào các mùa lễ cưới tại Ấn Độ. Nhưng điều mà ít ai suy nghĩ về cái logics của lập luận này. Mùa có nghĩa là cycle trong trading. Nếu Ấn Độ có mùa cưới hỏi trong khoảng thời gian nào đó của năm thì có nghĩa là trong khoảng thời gian đó, vàng lên khá cao so với giá trung bình của năm. Vì là cycle cho nên sau mùa lể cưới thì nó sẽ rớt trở lại mức cũ. Nhưng nếu nhìn vào gold chart thì chúng ta không thấy cái cycle đó diễn ra trên chart. Vàng trong thời gian 2 năm qua có một cái mà technicians gọi là SECULAR UP TREND.

   Khởi đầu của năm 2007, nó đi lên một chút, rồi consolidated chừng vài tháng. Sau đó là break out on the upside. Gold không oscillate như một cycle để giải thích lập luận “mùa lể cưới.” Thật ra, một phần lớn của sự kiện gold lên là vì USD xuống. Nhưng đó chỉ là mặt trái của vấn đề. Sự kiện chính là sự phát triển kinh tế của thế giới nói chung. Economic expansion mới là lý do làm cho gold lên giá. Dĩ nhiên, một phần lớn giá cả hiện tại của gold cũng là do mấy chú speculators. Gold lên vì kinh tế phát triển là vì gold là một vật DẪN ĐIỆN số một trên thế giới on a large scale. Các khoán sản của thế giới, gold là số 1. Chính vì thế nếu các bác có biết chút ít về satellites thì các bác sẽ thấy rằng phần lớn satellites đều màu vàng. Vàng là vì satelites được bọc bằng vàng để dẫn điện. Trong các món hàng điện tử, vàng được làm một lớp vỏ bề ngoài để dẫn điện. Đó là một trong những lý do, nhưng không phải là lý do duy nhất, để làm vàng tăng giá. Mai này khi kinh tế US có suy thoái và nó kéo theo world economy thì vàng cũng vì thế mà đi xuống theo. Thêm một điều nữa là vàng không thể nào được chế ra giống như kim cương. Vàng chỉ có thể đào từ trong đất mà ra. Thành ra số lượng supply của vàng trên thế giới tùy thuộc vào khả năng tìm kiếm của nó, chứ không phải là khả năng sáng chế ra nó. 

   Chucuoi: Tôi thấy câu nói này đúng và quan trọng nên tôi save lại, đến một lúc nào đó bác sẽ thấy tôi lại nói câu này cho mọi người, giống như những nhận xét mà bác hỏi tôi hôm nay. Những vấn đề trên thuộc loại những thuộc tính cơ bản của các đồng tiền chính, cũng không có nhiều, tôi liệt kê một số thuộc tính chính mà tôi biết, bác nào biết thêm thì bổ sung nhé. 8 đồng tiền chính để trade: USD, EUR, GBP, CHF, CAD, AUD, NZD, JPY mỗi đồng tiền có những đặc tính cơ bản. Trong đó 3 đồng tiền CAD, AUD, NZD gọi là commodity, vì giá của các đồng tiền này chủ yếu chịu ảnh hường bởi giá cả của các mặt hàng là thế mạnh kinh tế của quốc gia đó, ở đây ta chủ yếu bàn về hai mặt hàng chính là: gold, oil. – CAD: Canada là một nước sản xuất và xuất khẩu dầu lớn thứ 9 trên thế giới va` từ năm 2000 trở đi, Canada đã vượt qua Saudi Arabia để trở thành nước cung cấp dầu quan trọng nhất của USA. Vì thế, khi giá dầu bắt đầu “bùng nổ” vào năm 2002, Canada đã thu được nguốn ngoại tệ không nhỏ bằng việc xuất khẩu dầu qua một số nước lớn như USA, China, Japan… Do đó giá đồng CAD chịu ảnh hưởng của oil – JPY: Japan là một trong những nước nhập khẩu dầu lớn nhất trên thế giới và đồng JPY rất “nhạy cảm” với oil price. Ngoài ra, Japan là nước có lãi suất thấp nhất so với các nước còn lại, nên giá của JPY cũng chịu ảnh hưởng của họat động carry trade. – AUD: Australia là một trong số những nước có trữ lượng vàng để khai thác và xuất khẩu cao nhất thế giới( chỉ đứng sau South Africa ), do đó, ko có gì ngạc nhiên nếu chúng ta thấy Aussie ( $AUD) và gold luôn có một sự tương đồng về giá cả. – NZD: AUD/USD và NZD/USD tương đồng đến 90% => Giá Gold cũng ảnh hưởng đến NZD. Ngoài ra, vì Australia và New Zealand đều là những nước xuất khẩu hàng hóa, nông sản cao cho nên giá nông sản cũng phần nào tác động đến $AUD và $NZD.
– EUR: đồng EUR chiếm tý trọng cao nhất trong USD index, nên có thể xem chỉ số này dự đoán xu hướng giá của EUR. Ngoài ra, đồng EUR và CHF lên xuống tương đồng nhau khoảng 80%. Trong các nước EUR thì Đức là nước có ảnh hưởng lớn đến EUR, nên có thể xem các chỉ số kinh tế của Đức để đoán giá EUR. 

– CHF: lên xuống tương đồng với EUR, và cái này anh VC mới nói, CHF là nơi để tránh bão chính trị.
– GBP: đồng tiền này tôi không biết có thuộc tính đặc trưng gì???
P/s: các con số thống kê trên có thể không chính xác, ví dụ như CAD có thể là nước xuất khẩu dâu thứ 10, thứ 8, . . . điều đó không quan trọng lắm, quan trọng là nhận xét sau đó về CAD và oil. Có thể nhiều bác chưa hiểu ý topic này, đó là topic phân tích thị trường trên quan điểm của trader, chứ không phải là analyst. Có sự khác biệt giữa hai nhóm người này khi phân tích thị trường. Trader phân tích để trade họ không phân tích quá sâu, mà chỉ phân tích tìm xu hướng thị trường trong ngắn hạn, trung hạn, phân tích đủ để họ có thể make $, phân tích mang tính chất thực tế, ứng dụng, không quan tâm đến những con số quá cụ thể, không dùng lý thuyết này, lý thuyết kia để tìm cách giải thích. Analyst thì họ phân tích thị trường sâu hơn, mang tính nghiên cứu, học thuật, dùng các lý thuyết kinh tế để phân tích và giải thích, nên họ cần số liệu cụ thể và chính xác. 

 Tôi lấy một vài ví dụ để minh họa:

Quote:
Cho hỏi là con số 5% hay là 7% là con số chuẩn mà mình đem ra để thấy mức độ của nền kinh tế. Tôi không quan tâm trong lý thuyết kinh tế họ nói chính xác mấy phần trăm là con số thể hiện nền kinh tế bắt đầu suy thoái. Tôi chỉ biết con số hiện tại là 5%, và mọi người đang nói rằng “Since 1949 the unemployment rate has never risen by this magnitude without the economy being in recession” Tôi không biết và cũng không có đủ số liệu để thống kê để biết con số kể từ 1949. Hơn nữa tội gì mình phải làm cho mệt, có người khác làm việc này cho mình rồi thì mình chỉ cần copy lại thôi.
Tương tự cho câu nói
Quote:
75% thị trường xuất khẩu của Canada là Mỹ 

Tôi không có số liệu để thống kê, và tôi cũng không tìm hiểu kỹ chuyện này làm gì. Tôi chỉ biết Canada xuất khẩu nhiều sang Mỹ, còn con số 50%, 60%, hay 80% thì không để ý lắm. Nếu bác m2m hỏi tôi “khối châu Âu họ thường xuất khẩu những mặt hàng chủ yếu nào qua Mỹ và ngược lại cũng như là nhập khẩu nhiều nhất cái gì?” Tôi sẽ hỏi lại, vấn đề này có ảnh hưởng gì đến thị trường hiện tại không? Nếu không thì không cần biết nó làm gì. Nếu có thì trên các trang tin tức, họ sẽ cho bác con số thống kê cụ thể, vì đó là công việc của họ, trader làm việc khác rồi. 

   P/s: Market senstiment là vẫn đề khó, ở trên diễn đàn, ngoài anh VC ra, hầu như mọi người đều như nhau cả. Có nhiều bác ngại không lên tiếng vì nghĩ mình không biết vấn đề này, nhưng thật ra tôi cũng không biết gì nhiều, chỉ là sưu tầm và dịch là chính mà thôi. Trong topic này, ai cũng pro như ai cả các bác ạ Việc BOE và ECB giữ nguyên lãi suất nằm trong dự báo của đa số mọi người nên khi quyết định này được công bố đã không ảnh hưởng nhiều đến thị trường. Sau khi có quyết định về lãi suất, chủ tịch ECB Ông Trichet đã có bài phát biểu về chính sách tiền tệ của khu vực Euro, mặc dù giữ nguyên lãi suất nhưng ECB sẵn sàng có những hành động cứng rắn để chống lại lạm phát. Quan điểm này đã dẹp tan mối nghi ngờ ECB dự định cắt giảm lãi suất trong 6 tháng đầu năm 2008, thay vào đó là ECB có thể tăng hoặc giữ nguyên mữc lãi suất 4.0% hiện tại. Điều này giúp cho đồng EUR tiếp tục tăng điểm so với đồng USD. Sau đó vài giờ thì chủ tịch FED Ông Bernanke cũng có bài phát biểu về chính sách tiền tệ của Mỹ, ông nhấn mạnh FED sẽ có những hành động để kích thích nền kinh tế phát triển. Thị trường cho rằng bài phát biểu của ông ngụ ý FED sẽ cắt giảm lãi suất 50 điểm vào kỳ họp cuối tháng, đã làm đồng USD xuống giá so với hầu hết các đồng tiền khác. Thâm hụt cán cân thương mại Mỹ trong tháng 12 cao hơn dự đoán đã làm cho các chỉ số chứng khoán mât điểm vào ngày cuối tuần. Sự gia tăng thâm hụt thương mại là do tình trạng nhập siêu, cụ thể dầu tăng giá đã làm tăng giá trị nhập khẩu của Mỹ. Mặc dù đồng USD yếu, khiến cho hàng hóa Mỹ trở nên rẻ hơn, đã kích thích sự tăng trưởng xuât khẩu hàng hóa, nhưng sự gia tăng xuất khẩu chỉ là 0.4% đạt $142.3 bln, vẫn không tăng kịp so với sự gia tăng quá lớn của nhập khẩu là 3.0% đạt $205.4 bln. Đồng GBP đang yếu dần đi do nền kinh tế nước này đang phát triển chậm lại. Sức mạnh của nền kinh tế Anh trong suốt thập kỷ qua là do sự đóng góp chủ yếu của kỹ nghệ nhà đất và tài chính, nhưng giờ cả hai kỹ nghệ này đang trên đà suy thoái. BOE đang quan sát tác động của việc cắt giảm lãi suất lần trước ảnh hương đến thị trường ra sao, và rất có thể BOE sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong các kỳ họp tiếp theo. Nền kinh tế Canada cũng đang phát triển chậm do ảnh hưởng của sự suy thoái nền kinh tế Mỹ, và giờ đây đã có các con số cụ thể về sư suy yếu của Canada: số nhà mới khởi công, số nhà được phép xây dựng đã giảm mạnh, số việc làm mới được tạo ra trong tháng 12 cũng giảm mạnh, tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp vẫn giữ nguyên và bằng với mức dự báo 5.9%, thể hiện thị trường lao động vẫn chưa đến nỗi quá xấu.

Bài viết của Eximbank
Doanh số bán lẻ của tháng 12 đã giảm hơn so với dự báo của các chuyên gia, khiến cho nhiều nhà đầu tư băn khoăn liệu kinh tế Mỹ có rơi vào suy thoái hay không. Chi tiêu cho  xe cộ, đồ điện tử, hàng gia dụng, vật liệu xây dựng, quần áo…tất cả đều giảm, phản ánh mức cầu về hàng hóa đang có xu hướng giảm sút, cùng với sự tăng trưởng chậm chạp của thị trường lao động làm cho kinh tế Mỹ trở nên ảm đạm và nếu điều xấu nhất xảy ra thì điều các nhà đầu tư quan tâm là chuyện gì sẽ xảy đến với đồng USD. Mặc dù những thông tin kinh tế được công bố không tốt như kì vọng nhưng đồng USD không hề yếu trong suốt cả phiên giao dịch hôm qua, lý do chính có thể là các thông tin không tốt đó làm tăng mạnh nhu cầu đầu tư mạo hiểm, chỉ số Dow giảm 275 điểm đã thúc đẩy nhu cầu thanh toán ồ ạt do các nhà đầu bán ra cổ phiếu. Hôm qua thì “người khổng lồ” Citigroup đã thông báo khoản giảm sút số vốn kỉ lục liên quan đến thị trường cho vay thứ cấp $9.83 tỷ, ngay lập tức Citigroup đã đưa ra một kế hoạch cần một khoản tiền mặt khoảng $14.5 tỷ thông qua phát hành thêm cổ phiếu, trong số đó thì $12.5 tỷ được huy động từ những cổ đông chiến lược như cựu giám đốc điều hành Sanford Weill, Chính phủ Singapore và Kuwait, hoàng tử Arab Saudi Alwaleed bin Talal. Khoảng tiền mặt này có thể giúp cho Citigroup sống sót sau cơn khủng hoảng tín dụng và nhà đất. Dù sao thì những con số đó cũng đã thấp hơn so với dự báo của các nhà đầu tư và Citi group sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong thời gian tới. Hầu hết những thành phần kinh tế tham gia thị trường đều nhận định mức cắt giảm lãi suất của FED sẽ là 50 điểm cơ bản, điều này chỉ có thể giải quyết được vấn đề tăng trưởng trong ngắn hạn mà thôi, trong dài hạn thì niềm tin của những người đi vay vẫn còn rất hạn chế. FED cần phải có những hành động quyết liệt nhằm lấy niềm tin của các nhà đầu tư vào thị trường tài chính và qua đó là tiến tới bình ổn kinh tế. 

JPY : Những thông tin kinh tế của Mỹ không tốt đã làm cho đồng JPY – vốn rất nhạy cảm với những thay đổi đến từ bạn hàng lớn nhất của mình – tăng giá cao nhất so với USD kể từ tháng 6/2005, sau khi các nhà đầu tư thoát khỏi các khoản đầu tư mạo hiểm, nghĩa là họ phải bán ra các tài sản đó để mua JPY trả các món vay mà họ đã sử dụng để đầu tư mạo hiểm. Cuối phiên giao dịch thì JPY được giao dịch ở mức $106.77 sau khi rớt từ mức $106.6. Những lo ngại về chi tiêu dùng của Mỹ, chiếm đến 2/3 tổng chi tiêu của nền kinh tế lớn nhất thế giới, đang giam sút và có nguy cơ lan rộng khiến cho các nhà đầu tư bắt đầu tiến hành xem xét các đồng tiền mạnh khác trong danh mục đầu tư. Tất cả những rắc rối có liên quan đến khủng hoảng tín dụng và nhà đất của Mỹ khiến cho những đồng tiền có lãi suất thấp như JPY được quan tâm một cách triệt để.
CAD: Đồng CAD đã tăng giá sau vài ngày liên tục mất giá so với USD, dược giao dịch ở trong khoảng $1.0192 đến $1.0135. Nhưng vấn đề thiếu thông tin kinh tế trong nước vào tuần tới khiến cho các nhà đầu tư không có một dấu hiệu rõ ràng nào để có chiến lược thích hợp đối với CAD. Sau khi trở thành hiện tượng trên bản đồ tiền tệ thế giới với những pha bứt phá ngoạn mục trong năm 2007, thì trong những ngày đầu năm mới này CAD lại có sự khởi động khá chậm chạp, có dấu hiệu tụt hơi so với những đồng tiền khác. Một phần là do chính sách kinh tế thắt chặt đối với người láng giềng phía nam – đang phải vật lộn với những khó khăn không dễ gì giải quyết trong một sớm một chiều. NHTW Canada cũng đang có những biểu hiện sẽ cắt giảm khoảng 25 điểm cơ bản làm cho lãi suất cơ bản xuống mức 4.00% vào cuộc họp bàn chính sách tiền tệ vào cuối tháng này. EUR: Vào phiên giao dịch hôm qua thì EUR đã cố gắng đạt mức $1.4925 nhưng đã không thành công khi chỉ đạt mức cao nhất là $1.4923. Mức tăng của EUR có thể là do những lời phát biểu mang tính trấn an dư luận về tình hình kinh tế Mỹ vào cuối tuần trước, ngụ ý đến một mức cắt giảm cao hơn do với kì vọng là 75 điểm cơ bản. Những thông tin kinh tế kém thuyết phục của Mỹ được công bố cũng góp phần làm cho EUR lên giá. Gold Hôm qua giá vàng đã giảm xuống dưới ngưỡng $900/oz sau khi đã tăng kỉ lục, nguyên nhân có thể là do sự phục hồi của đồng USD và giá dầu giảm đã thúc đẩy các nhà đầu tư bán vàng ra thu lợi nhuận. Giá dầu đã giảm mạnh xuống còn $90.98/thùng ngay khi thị trường chứng khoán Mỹ có phiên giảm giá nữa do những thông tin kinh tế không tốt chút nào của Citigroup, cùng với mức giảm tương đối bất ngờ của chỉ số tiêu dùng tháng 12. Tất cả những dấu hiệu đó cho thấy sắp sửa có cuộc suy thoái kinh tế, qua đó làm cho cầu về dầu giảm, hơn nữa dự báo về kho dầu dự trữ của Mỹ đã tăng lần đầu tiên trong gần 9 tuần qua. Cuối cùng thì các nhà đầu tư cũng phải nghĩ rằng kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng chậm, và xét theo một khía cạnh nào đó thì điều đó có những tác động tiêu cực đến vàng. Cuối phiên hôm qua giá vàng giao ngay đã rớt xuống $894.10/oz, thị trường đã có một vài dấu hiệu bán vàng ra thu lợi nhuận mặc dù số lượng còn nhỏ. Theo như phân tích kĩ thuật cho thấy xu hướng đánh theo hướng giá lên đã đến ngưỡng, mặc dù không mạnh cho lắm và xu hướng giá lên vẫn có khả năng tăng nữa, nhưng thị trường bây giờ rất khó đánh giá độ lớn tiềm năng của xu hướng lên giá. Trong thời gian vừa qua giá vàng liên tục tăng giá có thể là do những nguyên nhân như sự kì vọng quá lớn về mức thay đổi lãi suất cơ bản của Mỹ, tính chất đặc thù của vàng là công cụ đầu tư tài chính phòng chống rủi ro lạm phát cùng với những bất ổn kinh tế khác trong khi thị trường tài chính luôn trong trạng thái có thể bị tổn thương bất cứ khi nào, mặc dù người anh em của nó là dầu lại liên tục giảm giá.

Viet Currency

Source: Inter-Market Analysis Blog

—————————————————————-
Các bài viết phân tích chi tiết và tín hiệu giao dịch được update dành riêng cho khách hàng và học viên tại đây:
– Dịch vụ tư vấn phân tích: https://goo.gl/pHMMEb
– Khóa học: https://goo.gl/3aEqyv
– Các bài phân tích cũ theo phương pháp phân tích liên thị trường:https://goo.gl/FaeoYK

Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Latest posts by Ngọc Hải M.Pearlie (see all)

Ngọc Hải M.Pearlie
Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
http://intermarketanalysisblog.com