VIET CURRENCY

Định nghĩa và tác động của các chỉ số kinh tế quan trọng và những chia sẻ của Viet Currency.

CPI – Chỉ số giá tiêu dùng

   Đây là chỉ số đo lường mức độ lạm phát trong kinh tế Hoa Kỳ ở phương diện của người tiêu thụ. Trong kinh tế Hoa Kỳ có hai cách đo lạm phát, một ở mức độ người tiêu thụ và hai là ở mức độ của các nhà sản xuất hàng hóa.

   Cách đo thứ hai gọi là PPI, hay có nghĩa là Produce Price Index. Trong phần này chúng ta chỉ chú ý vào lạm phát ở mức người tiêu thụ. PPI sẽ được nói sau. 

   CPI là chỉ số đo lạm phát cho hàng hóa (goods) và dịch vụ (services). Trong kinh tế Hoa Kỳ, gần 80% của các ngành nghề được liệt kê vào loại dịch vụ. Cho nên CPI là một chỉ số rất quan trọng trong việc đo lường mức độ lạm phát. Phương cách cấu tạo chỉ số này gồm có ít nhất là 20 chỉ số phụ gom lại. 20 chỉ số này bao gồm nhiều lãnh vực khác nhau. Ngoài ra, nó còn gồm thêm gần 200 món hàng và dịch vụ mà người tiêu thụ thường xài trong gia đình. Các món hàng này gồm có các vật từ nhà cửa cho đến đồ ăn của em bé. Có thể nói là hầu hết các món mà người Mỹ xài trong nhà đều được tính vào đây. Điều muốn nhấn mạnh tại đây là thế này. 

   Traders on the Street khi thấy chỉ số này được công bố hàng tháng. Họ thường nhìn sâu vào chi tiết, tìm kiếm thêm những gì có thể giúp họ hiểu được thêm về lạm phát. Cho nên rất nhiều khi chỉ số này ra đúng như tiên đoán, và thị trường lên xuống một cách bình thường. Nhưng chỉ trong vài phút sau thì tự nhiên nó đổi hướng đi. Lên thật mạnh hay xuống thật sâu. Người mới vào cuộc chơi thường ngở ngàn vì sự việc này. Đó là lúc các traders có cơ hội đào sâu trong bản report và họ đã thấy rằng trong các chỉ số nhỏ được gom lại để tạo ra chỉ số CPI có vài cái bất ổn. Rất có thể một trong những chỉ số nhỏ đó, có dấu hiệu lạm phát khá cao. Và ảnh hưởng của nó sẽ lan rộng ra sau này, mặc dầu hôm nay nó chưa có gì. Một trong thí dụ để làm sáng tỏ điều vừa nói bên trên. Trong các chỉ số phụ của CPI có hai chỉ số phụ lớn nhất. Đó là chỉ số NHÀ CỬA (housing) và chỉ số GIAO THÔNG (transportation). Nếu tôi nhớ không lầm thì chỉ số nhà chiếm gần 42% của tổng số CPI, và giao thông chiếm khoảng 17% (please check). Nếu CPI ra đúng như người ta ước lượng, nhưng mà chỉ số housing lại tăng cao hơn con số dự tính thì traders sẵn sàng bỏ CPI và chú trọng vào chỉ số housing. Market vì đó mà sẽ giao động mạnh. Ngoài ra, khi tường trình chỉ số CPI thì chính phủ Hoa Kỳ tường trình hai chỉ số CPI (yes, 2 chỉ số). 

    Cái thứ nhất gọi là CPI. Cái thứ nhì gọi là CORE CPI. Sự khác biệt của hai số này là phần đồ ăn (food) và energy (năng lượng = gas dùng để sưởi ấm cho mùa đông). Hai phần này được bỏ ra khi tính CORE CPI. Lý do? Tại vì hai phần này rất là volatile trong kinh tế. Nó lên xuống lộn xộn cho từng tháng một cho nên muốn có cái nhìn thực tế về lạm phát, người ta bỏ nó ra để xem lạm phát có hay không. Đó là tại sao chỉ số CPI thường được công bố dưới hai con số khác nhau. Traders sẽ chú ý vào phần CORE-CPI để quyết định lạm phát. CPI là một con số rất quan trọng và chi tiết. Các bạn phần đông chỉ muốn biết ảnh hưởng của nó trong financial markets cho nên tôi xin tạm dừng tại đây thay vì đi sâu hơn nữa vào chi tiết của CPI.

Ảnh Hưởng của CPI:

Bond Market: Không gì ảnh hưởng mạnh bằng lạm phát vào thị trường bonds cho nên có thể nói là đây là một chỉ số cực kỳ quan trọng cho bond traders. Khi CORECPI tăng thì bonds sẽ xuống, yield sẽ lên mạnh. Ngược lại, nếu CORE-CPI không tăng thì giá bonds sẽ lên và yield sẽ xuống.

Stock Market: Stocks cũng thế. Giá căn bản của stocks được dựa vào chỉ số PE ratio. Khi lạm phát tăng thì rate sẽ tăng theo. Rate tăng thì earnings sẽ xuống. Nếu giá đứng yên thì PE ratio sẽ tăng, làm cho stocks trở nên mắc hơn trước nhiều cho dù giá (PRICE) không lên. Thành ra khi nghe lạm phát tăng, traders sẽ bán stocks để phản ảnh một giá mới cho thị trường dưới cái nhìn mới của lạm phát.3

Currency Market: Thị trường này thì hơi khác với hai thị trường kia. Khi lạm phát tăng thì rate sẽ tăng theo. Rate tăng theo sẽ làm đồng tiền bản xứ cũng tăng theo vì traders sẽ chơi carry trade qua hình thức phân lời cao thấp của hai đồng tiền. Trong danh từ nhà nghề, người ta gọi đó là cost of carry. Nếu cost of carry thấp thì trades sẽ sell đồng tiền đó để mua đồng tiền có phân lời cao hơn. Đó là căn bản của currency trading 101. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp khi lạm phát tăng mà đồng tiền bản xứ không tăng theo. Đó là lúc market nghĩ rằng lạm phát quá cao sẽ làm ngân hàng trung ương của quốc gia tăng mạnh phân lời. Mà nếu phân lời quá cao thì sẽ bóp chết kinh tế. Long term trend của currency của một quốc gia là sức mạnh của kinh tế. Khi kinh tế bị bóp nghẹt vì phân lời cao thì chưa hẳn là một điều tốt cho đồng tiền bản xứ. 

Michigan Consumer Index:

   Chỉ số MSI của tháng 9 tăng lên từ 82.0 đến 84.4, cao hơn dự đoán một vài điểm. Điều này làm an lòng các equity market investors. Vì kinh tế của Mỹ phần lớn (75- 80%) là service. Khi người tiêu thụ (consumer) mà tin vào sự phát triển của kinh tế (con số MSI càng cao thì chứng tỏ người ta tin vào kinh tế càng nhiều) thì kinh tế có chiều sẽ phát triển thêm. Chỉ số này tuy không có gì quan trọng cho lắm nếu đem ra so với các chỉ số kinh tế khác từ bộ Lao Động, nhưng nó có ảnh hưởng mạnh với các traders trên thị trường vì suốt trong vòng 50 năm lịch sử của chỉ số này, người ta thấy nó đo sự phát triển của kinh tế khá chính xác.

Quote:

1. Fed Raises Discount Rate – An increase in the borrowing rate for banks from the Fed usually result in increased rates for banks’ clients. This action is used to slow credit expansion.

Market Impact: Market price of foreign currency relative to USD to fall.

Lời Giải Thích (VietCurrency):

     Trước hết xin định nghĩa cái gì gọi là discount rate. Discount rate là một loại phân lời chỉ dành riêng cho các ngân hàng lớn (money center banks) của Hoa Kỳ. Theo luật Hoa Kỳ thì nhà bank phải có một số tiền vốn tối thiểu trước khi có quyền nhận tiền ký thác của khách hàng. Số tiền này thường là số phần trăm (percentage) của tổng số tiền khách bỏ vào, chẵn hạng là 20%. Lý do mà the Fed ra điều kiện trên là vì họ sợ rằng nếu ngân hàng không có đủ tiền mặt để trao cho khách khi người ta vào rút tiền thì sẽ tạo nên một nổi hoang mang lo sợ và người ta sẽ vì thế mà không tin hệ thống ngân hàng nữa. Họ sẽ ùn ùn đi rút tiền ra. Mà nếu ai cũng rút tiền ra hết thì ngân hàng đâu có tiền đủ. Hiện tượng này đã xảy ra tại Hoa Kỳ vào thập niên 30’s và người ta thường gọi hiện tượng đó là Bank Run. 

    Danh từ “Run” ở đây không có nghĩa là chạy. Nó có nghĩa là Cạn, hay Kiệt Quệ. Ngân hàng nào cũng sẽ xảy ra cảnh kiệt quệ nếu ai cũng vào rút tiền ra cùng một lượt. Đó là căn bản của một ngân hàng tại Hoa Kỳ. Sau mỗi buổi chiều khi đóng cửa ngân hàng phải tính sổ lại coi mình thiếu đủ bao nhiêu. Nếu thiếu, họ phải đi vay mượn cho đủ số phần trăm quy định. Ai mà thiếu sẽ bị phạt rất nặng. Nhẹ thì đóng tiền phạt; Nặng thì có thể mất bằng hành nghề. Khi đi vay mượn, ngân hàng có hai cách. Một là họ vay với một ngân hàng khác. Hoặc là, họ vay thẳng từ the FED. Khi họ vay với nhau, chỉ số phân lời mà họ trả gọi là DISCOUNT RATE. Tại sao gọi là DISCOUNT (tiếng Việt dịch ra nôm na là HẠ GIÁ) Rate? Tại vì phân lời này rất nhẹ và chỉ tượng trưng thôi. Đặc biệt nữa là nó chỉ là phân lời qua đêm. Tại sao gọi là qua đêm (overnight)? Tại vì họ chỉ cần số tiền này đủ để trình với the FED là họ có đủ tiền trong ngân hàng vào cuối ngày. Đó là định nghĩa chính thức của cái gọi là DISCOUNT RATE. Tuy nhiên, người viết mục này đã sai khi họ xài chữ discount rate. The Fed không tăng discount rate. 

    The Fed tăng cái gọi là FED FUND RATE. Gọi là FED FUND vì nó xuất phát từ the FED. Đây cũng là cách thức thứ hai mà một ngân hàng có thể vay mượn khi thiếu tiền. Họ đến the FED, đi lại một nơi gọi là DISCOUNT WINDOW để vay mượn. Giữa hai phân lời FED FUND và DISCOUNT RATE. Nó có một sự khác biệt rất lớn. Phân lời discount rate LUÔN cao hơn phân lời FED FUND RATE. Đó là vì Discount rate là một MARKET RATE. Gọi là market rate vì sự lên xuống của nó do lực cung cầu của thị trường quyết định. Nếu nhiều ngân hàng thiếu tiền quá, và họ cùng đi mượn thì discount rate sẽ tăng theo luật cung cầu. Trong khi FED FUND thì không thay đổi vì lực cung cầu của thị trường. Nó là cái rate do the FED quyết định. Nó không lên xuống vì lực cung cầu của thị trường, mà do lạm phát trong kinh tế mà ra. Và chính vì thế the FED là nơi quyết định sự lên xuống của nó vì the Fed dùng nó để chống lạm phát. k..đó là những hiểu biết căn bản về hai cái rate. Phần thứ nhì là market reaction của rate hike. 

     Trên thế giới có hai hệ thống phân lời chính. Cái của Mỹ, gọi là FED FUND. Cái của Anh, gọi là LIBOR (London Interbank Borrowing Overnight Rate….hình như là vậy đó). Ở Mỹ FED FUND là rate thấp nhất. Tất cả các rate khác đều dựa vào Fed Fund để tạo thành. Khi the FED mà tăng phân lời thì họ sẽ tăng cái rate này, và những cái rate khác vì thế mà được đôn lên cao hơn. Giá trị của các đồng tiền trên thế giới được định đoạt qua hai điểm chính. Sự phát triển của kinh tế và Phân Lời bản xứ. Sự phát triển của kinh tế sẽ là hướng đi dài hạn cho thị trường. Phân lời bản xứ quyết định hướng đi currency trong giai đoạn ngắn hạn. Ngắn hạn là vì traders sẽ “ride the trend all the way up” hay có nghĩa là họ sẽ mua đồng tiền nào có phân lời cao và tiếp tục mua hoài cho đến khi chu kỳ tăng phân lời của đồng tiền đó hết thì họ mới nhảy ra. Họ làm như thế vì mấy chú traders chơi trò CARRY TRADE trong currency market.

Quote:

2. Fed Buys Bills – Fed adds to banking system reserves that may lead to a drop in rates. Market Impact: Market price of foreign currency relative to USD to go up.

 Lời Giải Thích (VietCurrency):

Đây là một phương cách điều khiển lượng tiền trong kinh tế, đặc biệt là loại M1 Money supply. Khi thấy kinh tế đang trên đà suy thoái thì the FED sẽ bỏ tiền ra mua bonds với đủ loại maturities (đáo hạn). Có nghĩa là the FED tung tiền vào kinh tế. Khi bơm tiền vào kinh tế qua hình thức này thì phân lời sẽ hạ. Phân lời hạ vì bây giờ số lượng tiền trong kinh tế nhiều hơn trước. Các nhà banks sẽ vì đó mà hạ phân lời để giành khách. Sự cạnh tranh của các nhà banks sẽ làm dể dải trong việc vay mượn. Vay mượn dể thì các cơ sở thương mại mới mướn thêm người v.v.v…Kinh tế vì đó sẽ phát triển. Đây là một trong những phương thức mà the Fed khôi phục kinh tế. Ngược lại, trong trường hợp tiền nhiều quá (M1)trong kinh tế thì sẽ tạo ra lạm phát (Xin lưu ý: lạm phát có nhiều hình thức. Lạm phát thường có nghĩa là tiền mất giá. Tiền mất giá thường có hai phần. Một là vì tiền nhiều quá nên giá trị nó giảm. Hai là vật giá leo thang nên tiền mất giá. Hai cái này hoàn toàn khác biệt) Muốn giảm lượng tiền đang lưu hành trong kinh tế, the Fed ra bán bonds ra thị trường. Khi bán bonds (cái này có nhiều hình thức, xin tạm xài hình thức đơn giản nhất là đấu giá, hay còn gọi là AUCTION) thì the FED thâu tiền vào. Số tiền thâu vào sẽ tạo thành một multiplying effect trong kinh tế. Có nghĩa là cứ mỗi một đồng mà the Fed thâu vào sẽ có ảnh hưởng gần 3-5 đồng bị rút ra khỏi kinh tế. Đây là hiện tượng mà traders gọi là multiplying effect.

 ***Lưu ý: Các thông tin trên cung cấp cho khách hàng chỉ mang giá trị tham khảo Auto Sales Doanh số bán xe hơi chỉ ra doanh số xe hơi bán được trong khoảng thời gian là 10 ngày. Số liệu này được công cố 3 ngày sau kì hạn 10 ngày, đây là số liệu chiếm phần quan trọng trong số liệu kinh tế của Mỹ.

Purchasing Managers’ Index (PMI)

    Chỉ số này được sử dụng rộng rãi ở các nền kinh tế công nghiệp để đánh giá niềm tin về triển vọng kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Đức, Nhật, Anh sử dụng để xem xét cả 2 ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ. Các số liệu được công bố sẽ đưa ra các câu hỏi về hoạt động kinh doanh, cơ hội kinh doanh mới, việc làm, giá cả đầu vào… Contruction Spending Chỉ số này đo lường giá trị của xây dựng trong thời hạn 1 tháng. 

ISM Manufacturing Index

Chỉ số này dự trên cơ sở xem xét các doanh nghiệp sản xuất về việc làm, sản phẩm, đơn đặt hàng mới, nhà cung cấp, giao hàng và hàng tồn kho. Mức độ của chỉ số sẽ đưa ra được đà phát triển của sản xuất.

Gross Domestic Product (GDP)

Chỉ số này đo lường giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trên một quốc gia, không xét đến yếu tố quốc tịch của các công ty sở hữu các nguồn lực này. Có 4 yếu tố chính cấu thành giá trị GDP gồm : tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ, xuất khẩu ròng. Chỉ số này được công bố hàng quý trên cơ sở so sánh tỷ lệ % tăng giảm quý này so với quý trước, năm này so với năm trước. Chỉ số này có ảnh hưởng quan trọng trên thị trường sau khi được công bố.

Retail Sales Doanh số bán lẻ

Đo lường tổng số giá trị hóa đơn tại các cửa hàng bán sản phẩm lâu bền và sản phẩm không lâu bền. Không bao gồm dịch vụ.

Wholesale trade

Bản báo cáo về chỉ số này bao gồm các thống kê về doanh số và hàng tồn kho ở giai đoạn thứ 2 của chu kỳ kinh doanh… số liệu về doanh số không nhắc đến tiêu dùng cá nhân, vì thế nó không thay đổi được thị trường. Các hàng tồn kho bán buôn này đôi khi thay đổi của nó làm thay đổi tổng lượng hàng tồn kho (gồm hàng tồn kho ở cơ sở sản xuất, hãng buôn, điểm bán lẻ) và có thể ảnh hưởng đến GDP. Qua số liệu được công bố ta có thể biết được môt phần nhỏ phản ứng của thị trường, thường thì số liệu này sẽ không được công bố rộng rãi trừ các nhà kinh tế thị trường. 

M4 money supply

Chỉ số này đo lường tổng lượng tiền trong nền kinh tế. Nó là tổng của: tiền dưới dạng tiền giấy và đồng xu, tổng lượng tiền gửi bởi các ngân hàng các cá nhân các công ty và các ngân hàng khác, tổng lượng tiền vay của chính phủ. Các nhà phân tích tin rằng sự gia tăng trong cung tiền là dấu hiệu báo trước của lạm phát trong tương lai. Tuy nhiên mối tương quan này không còn đáng tin cậy kể từ khi cố số liệu về tài chính được công bố từ những năm 80.

Producer Price Index (PPI)

   Chỉ số bán sỉ này là tổng hợp của nhiều chỉ số và nó đo lường thay đổi trung bình trong giá bán hàng nhận được bởi các nhà sản xuất hàng hóa dịch vụ trong nước. PPI đo lường thay đổi trong giá cả từ triển vọng của người bán. 

Unit Labor Costs

Chi phí đơn vị lao động là tỷ số của chỉ số tiền công mỗi giờ lao động trên chỉ số sản phẩm sản xuất ra mỗi giờ. Chỉ số này cho ta thấy được gia tăng trong sản phẩm sản xuất bù lại bằng sự gia tăng trong lương bổng hay sự gia tăng trong lương bổng làm hao mòn sự gia tăng trong sản phẩm sản xuất ra. 

Leading indicators

Chỉ số chỉ báo kinh tế, được xây dựng trên nền tảng 10 chỉ số khác nhau dùng để dự đoán triển vọng kinh tế.

Leading index

Đây là một chỉ số tổng hợp, là một nhân tố then chốt trong việc xác định đỉnh và đáy của chu kỳ kinh doanh, chúng được xây dựng để tổng hợp và chỉ ra các mô hình điểm thay đổi phổ biến trong các dữ liệu kinh tế theo phương cách rõ ràng và thyết phục, chúng loại bỏ được sự biến động của các yếu tố cá nhân. Theo lịch sử, điểm thay đổi của chu kì trong chỉ số này xuất hiện trước những hoạt động tổng hợp của nền kinh tế. Nếu trong 3 tháng liên tiếp mà chỉ số này thay đổi theo một chiều hướng thì điều này sẽ chỉ ra điểm thay đổi xu hướng trong nền kinh tế. Trong khi chỉ số này là một công cụ dự báo quan trọng thì nó lại có ít ảnh hưởng lên thị trường trái phiếu và lãi suất, bởi vì phần lớn các yếu tố trong chỉ số được xuất bản trước khi được công bố.

    Ở Mỹ chỉ số này bao gồm các yếu tố sau: giờ làm việc trung bình hàng tuần, sản xuất, các đơn yêu cầu bảo hiểm thất nghiệp trung bình hàng tuần, đơn đặt hàng mới của các nhà sản xuất, hàng hóa tiêu dùng và vật liệu, bán hàng, giấy phép xây dựng, nhà ở mới, giá chứng khoán, 500 cổ phiếu thường, cung tiền M2, biên độ dao động của lại suất, trái phiếu kho bạc kì hạn 10 năm trừ đi quỹ liên bang, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng.

   Ở Úc thì chỉ số này gồm :lợi tức trái phiếu chính phủ trung hạn, biên độ lợi tức trái phiếu, giá cổ phần, cung tiền M3, nông sản xuất khẩu, chỉ số doanh thu trên hang tồn kho, số lượng công ty tư nhân phi tài chính, các giấy phép xây dựng mới.

   Ơ Pháp chỉ số này gồm: lợi tức trái phiếu kì hạn 10 năm, biên độ dao động của lợi tức, chỉ số giá chứng SBF 250, tiêu dùng sản phẩm sản xuất, giấy phép xây dựng, dân số, số người thất nghiệp mới, đơn hàng mới của ngành công nghiệp, chỉ số niềm tin người tiêu dùng, thay đổi giá chứng khoán, và tỷ số giảm phát giá trị gia tăng trong sản xuất trên đơn vị lao động.

   Ở Đức gồm : các đơn hàng sản phẩm đầu tư mới, biên độ lợi tức, thay đổi trong hàng tồn kho, tổng lợi tức từ các xí nghiệp và tài sản, giá các chứng khoán, đơn hàng xây dựng nhà ở dân cư mới, mức tăng lãi suất cho chỉ số CPI ở khu vực dịch vụ, chỉ số niềm tin người tiêu dùng.

   Ở Nhật gồm : lợi nhuận hoạt động, số lượng nhà mới xây dựng, số doanh nghiệp phá sản, chỉ số làm việc toàn thời gian, giá chứng khoán (TOPIX) tăng trưởng của lãi suất 6 tháng đối với sản phẩm lao động, bản điều tra kinh tế Tanka về điều kiện kinh doanh, cung tiền, biên độ lợi tức, đơn hàng mới cho máy móc và xây dựng.

   Ở Anh gồm: báo cáo đơn hàng mới, khối lượng sản phẩm sản xuất mong đợi, chỉ số niềm tin người tiêu dùng, chỉ số tất cả chứng khoán, đơn hàng mới trong công nghiệp máy móc, sản phẩm sản xuất cho nền kinh tế, thặng dư lợi nhuận hoạt động của các doanh nghiệp.

 Average workweek

   Chỉ ra số giờ lao động trong khu vực phi nông nghiệp và là chỉ số hàng đầu về việc làm. Average hourly earning (AHE)Đây là một chỉ số quan trọng chỉ ra lạm phát trong chi phí lao động và sự căng thẳng của thị trường lao động, đôi khi cục dự trữ liên bang sẽ xem xét số liệu này trước khi có những điều chỉnh về lãi suất.

 Nonfarm payrolls

   Chỉ ra số lượng người lao động phi nông nghiệp trên bảng lương của hơn 500 ngành công nghiệp của tư nhân cũng của chính phủ.

 Unemployment rate

   Tỷ lệ người thất nghiệp là phần trăm số người có khả năng kiếm việc làm nhung hiện tại chưa kiếm được việc làm.mặc dù là một số liệu thường xuyên được công bố song chỉ số này không được mấy được thị trường quan tâm vì sự chậm trễ của nó, nó thường rớt sau những chu kỳ kinh tế.

 Consumer credit

   Đây là bản báo cáo của chính phủ để đo lường tín dụng tiêu dùng theo 3 tiêu chí là các khoản vay mua ô tô, các khoản vay luân chuyển, khoản nợ thẻ tín dụng, xu hướng tín dụng tiêu dùng được xem như là một chỉ số đáng tin cậy về chi tiêu của khách hàng. Ví dụ như xu hướng gia tăng trong nợ tiêu dùng chỉ ra được sự gia tăng trong nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế và ngược lại. Các nhà kinh tế cho đây là công cụ nghèo nàn về dự đoán xu hướng thị hiếu của người tiêu dùng.

 Wholesale price index (WPI)

   Chỉ số này đo lường giá cả hàng hóa trong khu vực doanh nghiệp. Nó tính toán tỷ trọng trung bình của của ba chỉ số giá cả gồm: chỉ số giá cả bán buôn trong nước, chỉ số giá xuất khẩu, chỉ số giá nhập khẩu. Trong đó chỉ số giá bán buôn trong nước chiếm một tỷ trọng lớn.

 GDP Deflator

   Đây là chỉ số giá tổng tổng hợp của GDP của nền kinh tế. Nó đo lường mức giá của GDP hiện tại trong mối quan hệ với giá năm cơ sở.

 Industrial production

   Đây là bản báo cáo của chính phủ về sản phẩm của các nhà máy, các khu mỏ, ngành phục vụ công cộng của quốc gia.

 Harmonized index of consumer prices- HICP

   Chỉ số này được sử dụng bởi NHTW Châu Âu (ECB), nó đo lường lạm phát trong phạm vi quốc tế, trong mối quan hệ so sánh với các nước trong Khu vực Châu Aâu, nó được tính toán dựa trên khái niệm cân đối, các phương thức và chứng từ, làm ảnh hưởng lên sự gia tăng giá cả trong khu vực Châu Âu dựa trên mô hình tiêu dùng của quốc gia, trong đó HICP dùng để đo lường tiêu chuẩn hội tụ đến mức giá cả cân bằng, đây là một cơ sở để đánh giá khả năng tham gia vào liên minh Châu Âu và các tổ chức tài chính tiền tệ của các thành viên. HICP được tính toán cho 15 thành viên EU công với Nauy và Iceland. Giống như CPI, HICP đo lường thay đổi trong giá cả thuần túy. Nó được bảo đảm bởi sự xác định và so sánh chi phí của rổ hàng hóa tiêu dùng. 

    Vì thế cấu trúc tiêu dùng và tất cả các yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá cả (sản lượng đơn vị hàng hoá, kênh phân phối, điều khoản gia hàng và thanh toán) giữ cố định trong các phép tính, nếu một trong các biến thay đổi thì sự khác biệt giữa giá cũ và giá mới có thể bao gồm sự thay đổi không thực. HICP được tính toán như một chỉ số dây chuyền. Sự khác biệt chính giữa CPI và HICP là rổ hàng hoá. Trong CPI có tính đến các khoản như tiền thuê nhà, thuế liên quan đến tiêu dùng như thuế tài sản, thuế xe cộ, chi phí để là thành viên của các câu lạc bộ, tổ chức xã hội, nhưng trong HICP không tính đến. Mặt khác, ở một số quốc gia HICP không bao gồn chi phí bỏ ra để chăm sóc sức khỏe. Sự khác biệt nữa là CPI bao gồm sự gia tăng giá cả tiêu dùng cá nhân của người quốc gia đó sống ở nước ngoài, trong khi HICP bao gồm tiêu dùng cá nhân của người nước ngoài sống ở quốc gia đó. HICP chỉ ra giá cả trong tiêu dùng của các hộ gia đình ở các vùng kinh tế, theo một phương cách không đáng tin cậy.

Độ lệch giữa HICP tính toán và công bố không lớn hơn 0,1%.

 Wholesale inventory

   Đây là báo cáo của chính phủ về thống kê doanh số và hàng tồn kho ở giai đoạn thứ 2 của chu kỳ sản xuất.

 Consumer price index (CPI)

   Đo lường sự thay đổi trung bình trong giá cả hàng hóa được chi trả bởi số lượng người tiêu dùng trung bình cho rổ hàng hoá dịch vụ cố định. 

   Ở Mỹ thì tỷ trọng các hạng mục trong rổ hàng hoá là nhà ở 42%, thực phẩm 18%, giao thông 17%, y tế 6%, trang sức 6%, giải trí 4%, khác 7%. CPI được sử dụng rộng rãi để đo lường lạm phát, là một chỉ số quan trọng ảnh hưởng đến các chính sách của chính phủ. Gia tăng trong CPI ám chỉ lạm phát, là một chỉ số quan trọng trên thị trường và có khả năng thay đổi thị trường, sự gia tăng lớn hơn mong đợi của lạm phát hoặc xuất hiện xu hướng gia tăng CPI sẽ dẫn đến giá trái phiếu giảm và lợi tức và lãi suất sẽ tăng lên. Chỉ số lạm phát cao gây ra sự thay đổi trên thị trường chứng khoán và sẽ dẫn đến thay đổi trong lãi suất. Lạm phát cao gây ảnh hưởng khó xác định tỷ giá hối đoái, nó dẫn đến sự giảm tỷ giá, khi mức giá cao hơn đồng nghĩa với giảm năng lực cạnh tranh. Lạm phát cao dẫn đến tăng lãi suất và áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ. Không như phương pháp đo lường lạm phát khác, chỉ bao gồm hàng hóa được sản xuất trong nước, CPI bao gồm luôn hàng hóa nhập khẩu. Các nhà phân tích thường tập trung đến CPI lõi, biến thể này đã chiếm 8 yếu tố chiếm 16% rổ CPI (trái cây, rau, xăng, dầu, khí gas, lợi tức

vay thế chấp, giao thông nội thị và thuốc lá). Phép tính này làm cho CPI được tính toán một cách chính xác hơn.

 Producer price index

   Là chỉ số tổng hợp đo lường thay đổi trung bình giá bán hàng qua thời gian nhận được bởi nhà sản xuất hàng hóa dịch vụ trong nước.

 Export price

   Báo cáo được công bố bởi Cục thống kê lao động và chỉ số này đo lường thay đổi trong giá các sản phẩm được sản xuất ở Mỹ và xuất khẩu đi các nước khác.

 Import price

   Báo cáo được công bố bởi Cục thống kê lao động và chỉ số này đo lường thay đổi trong giá các sản phẩm được mua từ các quốc gia khác bởi các nhà nhập khẩu Mỹ.

 Core PPI

   Chỉ số PPI lõi, đã trừ đi năng lượng và thực phẩm.

 Treasury budget

   Tài khoản hàng tháng của chính phủ Mỹ, có 2 dạng thặng dư và thâm hụt. Industrial production/manufacturing production/capacity utilization Sản lượng công nghiệp và chi tiêu vốn, phản ánh sức khỏe của khu vực công nghiệp. Đây là chỉ số đo lường sản phẩm đầu ra của các nhà máy, mỏ, ngành phục vụ công. Sản phảm sản xuất là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn nhất, có thể được tính toán chính xác bằng việc sử dụng tổng số giờ sản xuất của bản báo cáo việc làm. Trong bản báo cáo này, sản phẩm hữu dụng chiếm vị trí quan trọng, đây là sản phẩm dựa vào sự thay đổi của thời tiết. Thời tiết quá nóng hay quá lạnh sẽ gia tăng các nhu cầu về sản phẩm này, ngoài ra bản báo cáo còn chi ra mức độ chi tiêu vốn. Chi tiêu vốn đo lường xu hướng vốn các sử dụng để sản xuất hàng hóa, cho ta thấy được % tổng các xí nghiệp và thiết bị trong nền kinh tế được sử dụng cho sản xuất. Chi tiêu này tăng giảm theo chu kỳ kinh doanh. Sự gia tăng sản phẩm sản xuất sẽ dẫn đến chi tiêu vốn tăng. Thông qua chi tiêu vốn ta có thể đánh giá năng lực sản xuất của nền kinh tế. Nhưng thị trường thường không mấy tin vào chỉ số này. Chi tiêu vốn rất khó tính toán, nhưng ta có thể dự đoán chính xác dựa trên sự gia tăng của sản phẩm sản xuất. Sự gia tăng lớn hơn mong đợi hàng tháng hoặc xu hướng gia tăng sẽ chỉ ra dấu hiệu của lạm phát, làm giảm giá trái phiếu và tăng lợi tức và lãi suất. Tốc độ sản xuất chậm sẽ làm sáng sủa hơn cho thị trường trái phiếu.

 Housing start/Building permits

   Số lượng nhà mới được xây dựng đo lường số lượng đơn vị nhà mới xây dựng đầu mỗi tháng. Sự bắt đầu xây dựng nhà mới được coi như là sự động thổ nhà. Số lượng nhà được xây dựng mới được cung cấp thông qua giấy phép xây dựng nhà. Hoạt động xây dựng nhà ở liên quan trực tiếp đến lãi suất vay thế chấp, lãi suất tăng làm chi phí xây nhà tăng và làm giảm số lượng người vay tiền, làm số nhà xây mới ít đi và ngược lại. Đây là một chỉ số hàng đầu, dự báo sự phát triển, số lượng nhà xây mới giảm sẽ làm giảm tốc độ tăng trong nền kinh tế và đưa nền kinh tế vào tình trạng trì trệ, và ngược lại. Sự gia tăng lớn hơn mong đợi hàng tháng hay xuất hiện xu hướng gia tăng xem như là dấu hiệu của lạm phát, làm giảm giá trái phiếu, lợi tức và lãi suất sẽ tăng, số liệu này có ảnh hưởng quan trọng lên thị trường trái phiếu.

 Consumer confidence

   Là chỉ số hàng đầu của chu kỳ kinh doanh, đo lường mức độ niềm tin của người tiêu dùng hộ gia đình trong nền kinh tế. Báo cáo được công bố sẽ cung cấp thông tin về đánh giá của người tiêu dùng hộ gia đình trong nền kinh tế về tình trạng hiện tại và sự kỳ vọng vào tương lai.

   Ở Mỹ, các câu hỏi thường được gửi tới mẫu gồm 5.000 gia đình, có khoảng 3.500 trả lời. Họ được hỏi 5 câu: điều kiện kinh doanh của khu vực sinh sống, điều kiện kinh doanh trong 6 tháng, việc làm trong khu vực, việc làm còn trống trong 6 tháng, thu nhập gia đình trong 6 tháng. Các câu trả lời sẽ được điều chỉnh một cách hợp lý, 2 chỉ số còn lại , thứ nhất là đánh giá tình trạng hiện thời của khu vực, kỳ vọng ở tương lai cũng được xây dựng vào chỉ số, kỳ vọng chiếm tỷ trọng 60% và đánh giá tình trạng hiện thời chiếm 40%, chỉ số nêu lên tình trạng kinh tế mỗi vùng và nó được so sánh với các vùng khác. Niềm tin tiêu dùng có mối tương quan tới thất nghiệp, lạm phát, thu nhập thục tế. Chỉ số niềm tin tăng khi tỷ lệ thất nghiệp thấp và GDP tăng cao, gia tăng trong giá chứng khoán cũng làm chỉ số niềm tin tăng. Sự gia tăng trong tiêu dùng có thể được mong đợi như là dấu hiệu của lạm phát, chỉ số này ảnh hưởng quan trọng lên giá chứng khoán và một phần lên tỷ giá hối đoái. Là công cụ hữu ích để dự báo. Báo cáo này sẽ cung cấp các chi tiêu kế hoạch, không phản ảnh chi tiêu thực tế, nó không có các thông tin cần thiết để đánh giá chính xác thu nhập và gia tăng việc làm trong 6 tháng.

 Coincident index

   Đây là một chỉ số tổng hợp, là một nhân tố then chốt trong việc xác định đỉnh và đáy của chu kỳ kinh doanh, chúng được xây dựng để tổng hợp và chỉ ra các mô hình điểm thay đổi phổ biến trong các dữ liệu kinh tế theo phương cách rõ ràng và thyết phục, chúng loại bỏ được sự biến động của các yếu tố cá nhân. Theo lịch sử, điểm thay đổi của chu kì trong chỉ số này xuất hiện trước những hoạt động tổng hợp của nền kinh tế.

   Ở Mỹ chỉ số tổng hợp này gồm:lao động trong bảng lương phi nông nghiệp, thu nhập cá nhân trừ thanh toán chuyển nhượng, sản xuất sản phẩm công nghiệp, doanh số thương mại

   Ở Úc, gồm hoạt động bán lẻ, tỉ lệ thất nghiệp, sản xuất công nghiệp, việc làm, thu nhập hộ gia đình.

   Ở Pháp gồm: doanh số bán lẻ, sản xuất công nghiệp, nhập khẩu thực, chi phí thất nghiệp.

   Ở Đức gồm sản xuất công nghiệp, doanh số sản xuất, doanh số bán lẻ, việc làm.

   Ở Nhật gồm số người 72 có việc làm, sản xuất công nghiệp, doanh số bán lẻ thực, doanh số sản xuất thực, doanh số bán buôn thực và lương.

   Ở Anh gồm tổng tiêu dùng hộ gia đình, doanh số bán lẻ, việc làm, thu nhập thực của hộ gia đình có thể dùng được.

 Employee on non-farmpayrolls

   Thống kê này bao gồm lao động toàn thời gian và bán thời gian không phân biệt lao động thường xuyên và tạm thời. Do thay đổi trong chỉ số này ảnh hưởng đến thuê mướn hay sa thải thực tế lao động, nó dùng để đo lường sức khỏe của nền kinh tế.

 Average workweek

   Chỉ ra số giờ lao động trong khu vực phi nông nghiệp và là chỉ số hàng đầu về việc làm. Số giờ làm việc trung bình hàng tuần của công nhân vùng công nghiệp dẫn đến các chu kỳ kinh doanh bởi vì các công ty thường điều chỉnh giờ làm việc trước khi có sự tăng giảm trong lực lượng lao động của họ. Đây là chỉ số quan trọng bởi 2 lý do: nó chỉ ra sản phẩm sản xuất công nghiệp và thu nhập cá nhân, nó dùng để xem xét điều kiện làm việc của thị trường lao động. Sự gia tăng giờ làm là dấu hiệu gia tăng bảng lương, còn ngược lại cho ta thấy rằng các công ty đang khó khăn trong việc tìm kiếm các ứng viên đạt yêu cầu cho các vị trí còn trống.

 Unemployment rate

   Tỷ lệ người thất nghiệp là phần trăm số người có khả năng kiếm việc làm nhưng hiện tại chưa kiếm được việc làm.mặc dù là một số liệu thường xuyên được công bố song chỉ số này không được mấy được thị trường quan tâm vì sự chậm trễ của nó, nó thường rớt sau những chu kỳ kinh tế. Sự giảm số lượng việc làm không như mong đợi sẽ gây ra lạm phát, dẫn đến tăng lãi suất,thị trường trái phiếu nhìn nhận tỷ lệ thất nghiệp cao một cách ưa thích đặc biệt khi nền kinh tế hoạt động hết công suất và tỷ lệ thất nghiệp đạt đến mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Fed sẽ tăng lãi suất nếu tỷ lệ thất nghiệp giảm và ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Tỷ lệ thất nghiệp thấp là dấu hiệu của nền kinh tế khoẻ mạnh, lợi nhuận tiềm tàng cao và điều này tốt cho chứng khoán. Tỷ lệ thất nghiệp thấp có thể gia tăng kỳ vọng lạm phát, dẫn đến tăng lãi suất và điều này xấu cho thị trường chứng khoán. Tỷ lệ thất nghiệp thấp dẫn đến lạm phát lương cao, ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn mong đợi dẫn đến tăng tỷ giá hối đoái do có kỳ vọng tăng lãi suất.

 Average hour earning(AHE)/Employment cost insex(ECI)

   AHE l à một chỉ số quan trọng chỉ ra lạm phát trong chi phí lao động và sự căng thẳng của thị trường lao động, đôi khi Cục dự trữ liên bang sẽ xem xét số liệu này trước khi có những điều chỉnh về lãi suất. ECI là chỉ số tham hỏa đo lường chi phí lao động, và gia tăng lãi suất. Nó là dấu hiệu của lạm phát lương, đo lường thay đổi trong chi phí lao động trong khu vực phi nông nghiệp-bangchính quyền địa phương cho mỗi cá nhân ứng với mức trách nhiệm. Đây là chỉ số có ảnh hưởng quan trọng đến thị trường, là dấu hiệu của lạm phát lương, giống như giá cà hàng hóa và dịch vụ, giá cả lao động phản ánh lên chính sách tiền tệ. Giá cả lao động tăng nhanh chỉ ra rằng có quá nhiều tiền chi ra để được ít hàng hóa hơn, gia tăng không mong đợi ở AHE/ECI dẫn đến tăng lãi suất, thị trường trái phiếu xem xét gia tăng trong AHE/ECI dẫn đến lạm phát cho chi phí lao động, và gây ra lạm phát nếu có sự gia tăng vuợt mức của sản phẩm sản xuất. Lạm phát lương cao dẫn đến thị trường chứng khoán do tăng lương làm giảm lợi nhuận, tăng lãi suất dài hạn và đưa đến việc Fed tăng lãi suất để chống lạm phát. Aûnh hưởng của AHE/ECI là không rõ ràng, lương tăng làm tăng chi phi dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh, tuy nhiên nó làm tăng lãi suất danh nghĩa hơn khi Fed áp dụng chính sách thắt chặt, và tăng lãi suất về cơ bản sẽ dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng lên. ECI công bố hàng quý, AHE công bố hàng tháng và nó chỉ ra mức tăng lương so với tháng trước. Tuy vậy, việc so sánh 2 chỉ số này cần lưu ý một vài điểm: ECI đo lường chi phí lao động và nó bao gồm cả lương tuần, lương tháng và chi phí quyền lợi của người lao động như bảo hiểm các loại, không như AHE, ECI không bị ảnh hưởng bởi ca làm việc giữa các ngành công nghiệp lương thấp và lương cao hay việc làm lương cao-thấp trong mối quan hệ giữa các ngành công nghiệp, ECI đại diện cho chi phí lao động cho các việc làm toàn thời gian giống nhau, thay vào đó, AHE có thể gia tăng do nhiều cá nhân được tuyển ở vị trí công việc đòi hỏi kỹ năng tốt hơn, có mức lương trả cao hơn, điều này gia tăng trong AHE chứ không gia tăng trong ECI, không như ECI, AHE tăng do sự gia tăng nhất thời trong lương mỗi giờ làm việc, qua những điều trên, ta thấy rằng bản báo cáo ECI có phần quan trọng hơn AHE khi nó được dùng để xem xét rằng có tăng lạm phát lương hay chi phí lương hay là không.

 Net export/ Current Account

   Xuất khẩu ròng bằng giá trị xuất khẩu trừ giá trị nhập khẩu, nó được định nghĩa như là các cân thương mại của quốc gia, thặng dư khi xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, còn ngược lại là thâm hụt. Tài khoản vãng lai là một hỗn hợp có liên quan đến cán cân thương mại, và bằng cán cân thương mại công các yếu tố thu nhập ròng từ nước ngoài, cán cân thương mại, tài khoản vãng lai có thể nhìn nhận dưới 2 góc độ: có thể xem như là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu, và có thể xem như là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư quốc gia. Cán cân thương mại thâm hụt được xem như là năng lực cạnh tranh của quốc gia đó kém, và nó thể hiện một nền kinh tế mạnh khi đầu tư quốc gia lớn hơn tiết kiệm quốc gia. Cán cân thương mại có ảnh hưởng lên lãi suất và giá chứng khoán, giá chứng khoán rớt nếu cán cân thương mại chỉ ra năng lực cạnh tranh của các công ty trong nước kém, tuy vậy thâm hụt cán cân thương mại làm tăng nhập khẩu, khi đó lại suất có xu hướng tăng, tỷ giá hối đoái có thể tăng dựa vào thâm hụt cán cân thương mại.

 Federal open market committee- FOMC

   Là ủy ban đề ra chính sách lãi suất và tín dụng của hệ thống dự trữ liên bang, cơ quan quan trọng nhất làm ra chính sách tiền tệ, đứng đầu là chủ tịch Alan Greenspan. FOMC họp 8 lần một năm, trong các buổi họp này các thành viên FOMC sẽ xem xét chính sách tiền tệ nên thay đổi như thế nào?

 New York empire state index

   Xem xét tình hình hàng tháng các nhà sản xuất ở bang New York, được quản lý bởi cục dự trữ liên bang Mỹ, các thành viên gồm nhiều đại diện của các ngành công nghiệp khác nhau. Productivity/unit labor cost Đo lường hiệu quả lao động trong sản xuất hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế. Chi phí đơn vị lao động ảnh hưởng đến chi phí lao động tong việc sản xuất mỗi đơn vị sản phẩm đầu ra, cả hai được xem là chỉ số xu hướng lạm phát trong tương lai. Sản phẩm sản xuất rất quan trọng vì nó cho phép tăng lương và kinh tế tăng trưởng nhanh mà không có hệ quả của lạm phát. Đây là đề tài nóng gần đây đối với các nền kinh tế mạnh, có thị trường lao động khá căng thẳng và lạm phát chưa được giải quyết tốt, số liệu về sản phẩm sản xuất cho nhà đầu tư thấy được rằng chứng khoán và trái phiếu được mong đợi thay đổi như thế nào, và phản ứng của thị trường qua những công bố này chỉ ra sự đúng đắn trong tăng trưởng sản phẩm sản xuất.

 The institute of supply management survey (ISM index) aka purchasing managersindex (PMI)

   Là chỉ số tổng hợp của 5 chỉ số: đơn hàng mới, mức hàng tồn kho, giao hàng của nhà cung cấp, môi trường làm việc, sản xuất. Nó xem xét truy vấn các giám đốc mua hàng về định hướng chung của sản xuất, đơn hàng, hàng tồn kho, việc làm, giao hàng và giá cả. Yếu tố đầu tiên trong 5 yếu tố trên chiếm tỷ trọng lớn nhất, dữ liệu sẽ được điều chỉnh cho hợp lý ở các yếu tố, PMI trên 50% chỉ ra sản xuất trong nền kinh tế đang được mở rộng, dưới 50% thì sản xuất đang có ciều hướng giảm. Báo cáo PMI có ý nghĩa quan trọng cho thị trường tài chính, và là chỉ số tốt nhất về các doanh nghiệp sản xuất, đây là chỉ số phổ biến để xem xét áp lực lạm phát, tuy vậy nó không chính xác bằng CPI, do số liệu được cung cấp vào ngày thứ nhất sau thời hạn một tháng nên nó mang tính kịp thời, nó được xem là bức tranh phản ảnh rõ nét nhất về khu vực sản xuất. PMI thường được sử dụng để đoán PPI được công bố sau đó, nó còn chứa đựng thông tin quan trọng về hoạt động sản xuất và phi sản xuất, thị trường trái phiếu sẽ phục hồi khi ISM thấp hơn mong đợi, nhưng giá trái phiếu sẽ tăng khi ISM tăng cao. Điểm yếu của sự xem xét này là nó đưa ra 3 câu trả lời: PPI phản ứng nhanh hơn, cùng lúc và chậm hơn PMI đã công bố, vì thế kết quả không thật chính xác. Tuy vậy, chỉ số này đưa ra được chi phí việc làm, nó được theo sau bởi phản ứng của thị trường chứng khoán, một phần quan trọng của bản báo cáo là sự gia tăng trong đơn hàng mới, nó dự đoán được hoạt động sản xuất của các tháng tiếp theo trong tương lai.

Institute for Supply Management–ISM

Purchasing Managers Index (PMI)

Release date: The first business day of the month

Hours: 10:00am EST

Coverage: Previous Month’s Data

Released by: Institued for Supply Management (ISM)- Formerly the National

Association of Purchasing Managers (NAPM)

Lời Giới Thiệu:

Đây là một chỉ số tổng hợp của 5 chỉ số chính như sau:

 New Orders

 Inventory Level

 Production,

 Supply Deliveries

 The Employment Environment.

Mỗi chỉ số này có một ảnh hưởng riêng biệt để tạo nên chỉ số ISM chính. Chỉ số này được cấu tạo bằng cách thăm dò hơn 300 giám đốc của các công ty trong ngành sản xuất, với hơn 20 kỹ nghệ khác nhau. Khi chỉ số ISM này cao hơn 50 thì đó là dấu hiệu ngành sản xuất (manufacturing industry) của kinh tế đang gia tăng. Kinh tế Hoa Kỳ là một kinh tế sản xuất. Cho nên khi bộ phận này của kinh tế mà phát triển thì viễn ảnh của một kinh tế phát triển sẽ tăn rất cao. Ngược lại, khi chỉ số này mà dưới 50 thì đó là dấu hiệu ngành sản xuất trong kinh tế Hoa Kỳ đang co rút lại. Đó không phải là một dấu hiệu tốt cho kinh tế. 

 Phản Ứng của Market & Cách Trade:

   Vì là một trong những chỉ số kinh tế quan trọng bậc nhất của tháng, cho nên phản ứng của financial markets về chỉ số này rất mạnh. Traders thường dùng chỉ số này để đo mức độ lạm phát trong kinh tế, đặc biệt khi nó lên cao hơn 55. Traders thường xài chỉ số này để ước lượng chỉ số CPI, mặc dầu hai cái không liên quan gì đến nhau.

Nhưng traders suy đoán rằng nếu một phần của kinh tế phát triển thì xác xuất của một lạm phát tăng ắt phải có. Hơn nữa, chỉ số ISM ra rất nhanh so với các chỉ số kinh tế khác như PPI, CPI. Vừa hết tháng là nó ra liền. Sự kiện này giúp cho traders có cái nhìn xác thực với hiện trạng của kinh tế so với các chỉ số khác. Và đó cũng là tại sao phản ứng của financial markets với chỉ số này rất mạnh và giao động nhiều mỗi khi nó ra ngoài dự đoán.

Một trong những tiểu xảo khi đọc ISM là kiếm cái NEW ORDERS report đọc trước. Vì đó là con số đo mức phát triển của kinh tế, và cũng là con số cho phép traders ƯỚC LƯỢNG chỉ số ISM cho tháng sau.

 Vài lời chia sẻ…

Viet Currency

Source: Inter-Market Analysis Blog 

—————————————————————-
Các bài viết phân tích chi tiết và tín hiệu giao dịch được update dành riêng cho khách hàng và học viên tại đây:
– Dịch vụ tư vấn phân tích: https://goo.gl/pHMMEb
– Khóa học: https://goo.gl/3aEqyv
– Các bài phân tích cũ theo phương pháp phân tích liên thị trường:https://goo.gl/FaeoYK

Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Latest posts by Ngọc Hải M.Pearlie (see all)

Ngọc Hải M.Pearlie
Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
http://intermarketanalysisblog.com