VIET CURRENCY

Những chia sẻ của Anh Việt Currency trong phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản – Phần 35

Những chia sẻ của Anh Việt Currency trong phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản và kinh nghiệm trong giao dịch tài chính – Phần 35.

Phần này sẽ giải thích cho các bạn hiểu rõ hơn về thị trường mà các bạn đang giao dịch hàng ngày!

1. Currency market là gì ?  

Đây là một thị trường được dựng lên bởi các nhà banks lớn liên kết với nhau. Mục đích chính của thị trường là trao đổi tiền tệ giữa các ngân hàng. Dần dà currency market lớn dần và trở nên một thị trường tài chánh giống như bao thị trường tài chánh khác. Tuy nhiên, bản chất của nó không phải là đầu tư, mà là hedge(hang rào). Có nghĩa là người ta sinh ra nó để nó giúp các đại công ty, các ngân hàng bảo vệ tài sản, sản phẩm của họ qua hình thức tài chính. Thị trường nào cũng có hai loại người chính, hedgers hay có thể là investors, và speculators (đầu cơ). Hedgers là người tạo nên lực cung cầu của thị trường. Còn speculators thì tạo nên liquidity cho thị trường. Hai lực này hợp lại tạo nên currency market là một thị trường lớn nhất trong tất cả các thị trường tài chánh của thế giới.

2. Currency market họat động 24/24 ,vậy tại sao mỗi ngày lại có giờ mở cửa của các thị trường.

 Giờ mở cửa các thị trường là giờ bản xứ. Còn currency market thì lúc nào cũng mở cửa. Thị trường bản xứ, chẳng hạn như thị trường Hoa Kỳ, có thể đóng. Nhưng currency market vẫn có thể trade tại một thị trường khác, ở một giá gần như là tương tự giá của thị trường vừa đóng. Người ta thường nói đùa rằng currency market là một thị trường “follow the sun.” Có nghĩa là m1/1/2014ột thị trường không bao giờ ngũ. Nó di chuyển từ đại lục này sang đại lục khác, theo chân mặt Trời. 

3. Giờ mở cửa thị trường có phải lúc đó các Big Trader bắt đầu họat động?
Không. Traders không hoạt động theo giờ. Họ họat động theo news và theo tầm quan trọng của những sự việc đang xảy ra vòng quanh thế giới đã và đang ảnh hưởng vào giá thị trường. Vì thị trường hầu như không bao giờ đóng cho nên khi có tin tức quan trọng thì traders có thể trade currency với bất cứ nơi nào trên thế giới.

4. Các US Trader giữ vai trò như thế nào đ/v Currency market ?  

Traders là một bộ phận chung của thị trường, chứ không phải đứng ngoài thị trường. Họ không có nhiệm vụ gì hết. Họ vào cuộc chơi với một ý nghĩ duy nhất. Đó là kiếm tiền, và kiếm cho thật nhiều tiền. Đơn giản vậy thôi. Tuy nhiên, với một túi tiền lớn gấp trăm ngàn lần số tiền của các retail traders, professional traders cung cấp cho thị trường một điều quan trọng nhất của tất cả market. Đó là liquidity.

5. Giá (price) trong currency market được hình thành như thế nào?

 Price được thành hình qua một phương thức gọi là price discovery. Có nghĩa là đấu giá. Người nào muốn bán giá nào thì post lên, nếu đúng giá thì sẽ có người mua. Và cứ lần lần như thế mà giá được tạo thành. Đây là căn bản của các thị trường tài chánh thế giới khi họ định giá một vật gì. Vì giá được định qua phương pháp này cho nên giá thật ra chỉ là một khái niệm, không có gì là chính xác cho lắm. Cũng chính vì thế giá luôn thay đổi vì khái niệm của giá luôn thay đổi tùy theo cái nhìn của mỗi trader trong cuộc chơi, và tùy theo những tin tức kinh tế, và diễn biến của chính trị hằng ngày trên thế giới. 

6. Pips là gì? Mối tương quan giữa Quantity và pips?

 Pips(điểm) là đơn vị nhỏ nhất để đo mực độ lên xuống của giá trong currency market. Quantity không dính líu gì đến sự thành hình của pip cả. Quantity là số lượng tiền được mua bán tại một giá nào đó. Nếu số lượng (quantity) nhiều thì nó sẽ thay đổi hướng đi của giá. Pips chỉ thay đổi khi GIÁ TRỊ của lot(lô) thay đổi. Giá trị của lot không phải là quantity mà là LOT VALUE. Giá trị của lot cho mổi đồng tiền đều khác nhau ít nhiều. Từ giá trị của lot, người ta mới tính ra pip. 

7. Market makers khác brokers như thế nào?

Câu hỏi này liên quan đến cơ cấu của thị trường tài chánh nói chung, chứ không hẳn của currency market nói riêng. Currency market mới được thành lập (currency trading) vào khoảng năm 1973 khi TT Nixon bải bỏ hiệp ước Brettonwood. Cùng thời điểm đó là giai đoạn bắt đầu của OTC market tại Hoa Kỳ. Cho nên currency market xài OTC model làm phương pháp mua bán currency. Trong phương thức điều hành một thị trường tài chánh qua hình thức đấu giá, người ta có hai mô hình. Mô hình thứ nhất gọi là mô hình SPECIALIST(chuyên gia). Đây là phương thức mà thị trường NYSE đã xài gần 100 năm qua. Mô hình thứ nhì gọi là MARKET MAKER. Đây là mô hình của thị trường Nasdaq. Market making là một cách tạo nên market trong đồng tiền nào đó, chẳng hạn như đồng Euro, hay trong một stock nào. Nhiệm vụ của người market maker là KIẾM NGƯỜI MUA VÀ NGƯỜI BÁN để hai người này có thể trao đổi hàng hóa với nhau theo đúng danh từ của chữ MARKET. Họ là người tạo ra thị trường bằng cách MATCH người mua và người bán lại với nhau. Đó là định nghĩa và nhiệm vụ của họ. Họ không có trách nhiệm về giá cả thị trường. Giá cả là do người mua và bán quyết định. Nếu anh bạn là một cậu học trò, và câu hỏi này liên quan đến bài tập trong trường thì đây là câu trả lời chính xác về định nghĩa của một market maker là gì. Ngược lại, trong thực tế khi chúng ta trade thì market maker có thể làm một trong hai điều sau đây. Họ có thể EXECUTE(htực hiện) cái order trên hai phương diện: AGENCY & PRINCIPAL. Nếu họ execute cái order trên phương diện agency thì có nghĩa là họ chỉ match người mua và người bán lại với nhau. Họ không có thắng thua gì trong cái order đó. Có nghĩa là họ không có dự phần vào công việc trading. Lợi nhuận của họ trong cái trade này là điểm spread của giá, thường là 3 đến 4 pips. Còn nếu họ execute cái order trên phương diện của một PRINCIPAL thì cái đó có nghĩa là họ chấp nhận mua bán với khách. BUY order mà vào thì họ sẽ chấp nhận bán ra để thỏa mãn cái order đó. SELL order mà vào thì họ sẽ mua vô. Nói các khác, họ là chấp nhận take the opposite side of the trade. Không phải brokerage house (danh từ nhà nghề khi nói đến các hãng broker) nào cũng làm được như thế. Nếu hãng broker chỉ có thể execute order của khách qua hình thức AGENCY thì họ chỉ là broker theo đúng nghĩa danh từ. Còn hãng nào mà làm luôn hai thứ. Đó gọi là BROKER & DEALER. Đây thường là đại công ty, là đại gia của nghề brokering. Theo tôi biết thì hầu hết các broker mà chúng ta (retail clients) xài đều là broker thui. Còn các đại công ty như Citibank, Bank of America thì mới là Broker Dealer. CRB Index Đây là một chỉ số gồm có 22 món nguyên liệu thông dụng nhất trong kinh tế. Giá trị của 22 món hàng này rất nhạy cảm với sự thay đổi của kinh tế. Một khi sự thay đổi của kinh tế vì lý do lạm phát thì giá trị của các món hàng này thay đổi rất mau. Ngoài ra, các món nguyên liệu được chọn làm thành viên của chỉ số này hầu hết điều là các chất nguyên liệu nguyên thủy, hoàn toàn chưa được bào chế thành một sản phẩm tiêu thụ. Lý do mà người ta chọn các nguyên liệu ở giai đoạn trên là vì người ta không muốn thấy giá của nó bị ảnh hưởng bởi các giá khác cộng vào khi món hàng trở thành một sản phẩm tiêu dùng. Thí dụ dể hiểu nhất là cao su. Từ mủ trên cây đến khi nó biến thành một vỏ xe hơi hay một món đồ nào đó thì giá cả thật sự của cao su không còn nữa. Thêm vào đó là một số giá thành được cộng vào, từ chi phí bào chế đến chuyên chở v….v Giá của các món hàng này được tính bằng giá spot market. Spot market là giá mua ngay tại chỗ, không có chi phí phân lời (*) vay mượn hay chi phí tồn kho (**) tính vào. Nghĩa là đây là một giá sát thật tế nhất mà người ta có thể mua được. Giá được tính theo lối này để tránh đi mọi sự thay đổi trong giá không xuất phát từ lạm phát mà ra, vì đây là một chỉ số đo lạm phát lâu đời nhất của kinh tế Hoa Kỳ. Hai mươi hai món hàng đó được chia ra làm hai loại: Raw Materials & Foods. Raw materials tạm dịch là đồ chưa được chế biến. Foods là thực phẩm. Hai mươi hai món đó gồm các thứ như sau: Nguyên Liệu Nguyên Thủy: Burlap Copper scrap Cotton Hides Lead scrap Print cloth Rosin Rubber Steel scrap Tallow Tin Wool tops Zinc Thực phẩm: Butter Cocoa beans Corn Cottonseed oil Hogs Lard Steers Sugar Wheat (*) Trong thị trường tài chánh, hầu hết các món hàng đều có cái gọi là CARRYING COST. Carry cost là một chi phí được cộng vào giá để tính ra giá thành của món hàng. Một trong những chi phí chính của carrying cost là tiền vay mượn ngân hàng để mua đồ. (**) Storage Fee: Trong thị trường thương phẩm (futures markets). Người mua (long) sẽ thật sự nhận món hàng (take delivery) mà mình mua. Hàng được tính bằng cả ngàn ký lô gram. Cho nên cần phải có kho để chứa. Tiền mướn kho là một trong những chi phí của giá thành. Một điều xin lưu ý về chỉ số này. Đây là một trong những chỉ số lâu đời nhất của các chỉ số kinh tế Hoa Kỳ. Nếu tính theo dòng lịch sử thì nó xuất phát từ thập niên 30, trong giai đoạn Great Depression của Hoa Kỳ. Vì thế phương pháp và các món hàng chọn lựa cũng nhiều khi không còn phù hợp với thời gian cho lắm, theo thiển ý của tôi. Cho nên mặc dầu nó là một trong những chỉ số chính để đo mức độ lạm phát trong kinh tế, đặc biệt là loại lạm phát gọi là COMMODITY-INDUCED INFLATION, các kinh tế gia hiện tại vẫn xài chỉ số CPI làm chỉ số chính. (CPI sẽ được phân tích kỹ trong những bài viết sau) Cách tính tỷ trọng của các đồng tiền trong US index được lựa chọn trên số hàng hóa xuất nhập cảng giữa hai quốc gia và, quan trọng hơn nữa, là sự trao đổi hối đoái (foreign exchange) của hai đồng tiền. Tại vì nếu một trong hai đồng tiền đó yếu đi thì nó sẽ làm chênh lệch số hàng hóa xuất nhập cảng. Số hàng hóa này dưới mặt các kinh tế gia thì không phải đơn giản là hàng hóa xuất nhập, mà là khả năng cạnh trang kinh tế của một quốc gia. Khả năng này càng cao thì giá trị của đồng tiền thành viên càng lớn. Bởi thế, câu trả lời cho bạn là KHẢ NĂNG CẠNH TRANH KINH TẾ của một quốc gia so với Hoa Kỳ là điểm chính yếu trong việc quyết định con số tỷ trọng. Và cái khả năng canh tranh kinh tế này phần lớn dựa vào số hàng hóa trao đổi và giá trị tương ứng của hai đồng tiền. Cũng vì lý do này mà bạn thấy rằng tại sao China luôn luôn phá giá đồng Yuân để tạo lợi điểm trong việc canh tranh kinh tế.

Bọn em bây giờ chắc lại phải theo dõi thêm biến động trái phiếu nữa mất thôi.

 Từ từ sẽ còn nhiều thứ mà các bác sẽ phải theo dõi để đầu tư cho đúng phép. Bây giờ các bác hiểu tại sao làm một người trader bác phải có một sự hiểu biết tối thiểu để rồi khi có tin tức là bác nối liền sợi dây liên hệ đó lại với nhau. Nối không được là không nên trade. Tại sao? Tại vì trade kiểu đó là bác xài “vô chiêu thắng hữu chiêu.”  

Ở VN, chỉ tổ chức mới được mua trái phiếu. Theo em hiểu mua trong phiên là trái phiếu đã phát hành.Trái phiếu phát hành lần đầu thì người ta mang ra đấu giá. Năm ngoái sàn Ha đã nhiều lần tổ chức KHÔNG thành công đấu giá trái phiếu phát hành lần đầu và cổ phiếu phát hành thêm.  

Ok….chỉ có tổ chức mới mua được là vì đây là the “big boys” game. VN đang đi theo các mô hình tài chánh của thế giới. Dần dần VN sẽ có bond market với một cái yield curve. Từ đó thì giá cổ phần (stock market) mới ổn định hơn vì lúc đó risk được hệ thống hóa và có thể đo được. Bonds là trò chơi đặc thù của big boys ở bất cứ quốc gia nào. TT tài chánh của quốc gia đó càng lớn thì cái stake trong trò chơi này càng cao. Đó là tại sao bond traders của financial market thường được xem là the “bad-ass mother fucker of all.” (sorry for the “trader’s talk”) Bác lấy tin tức này ở đâu vậy? Có chính xác lắm không? Nếu người ta mua VN bonds thì VN stocks rớt là phải rồi. Mua bond vì risks tăng. Risk về sự phát triển kinh tế. Mấy bác check lại dùm xem gần đây có ai phát hành bản tường trình về sự phát triển kinh tế VN hay không. Họ có thay đổi cái nhìn về kinh tế VN trong 2008 không? Một điều mà tôi thấy hơi lạ trong VN market khoảng gần 2 tháng trở lại đây là SỐ LƯỢNG volume quá thấp, thấp một cách bất bình thường. Chart thì tuy có yếu nhưng không bât bình thường như volume. Bây giờ lại nghe nói foreign investors lại đi mua bonds thì hơi nghi tí. Somebody out there know something that we don’t.

Cái này có thể xem là phân tích FA + news trong currency market chăng?
Tôi có đọc qua, nhưng vđ quá rối rắm, quá nhiều yếu tố tác động lòng vòng tới tỷ giá: lạm phát, lãi suất, cán cân vãng lai, nhu cầu đầu tư, cung tiền, độ rủi ro và liquidity… Tác động ngắn hạn và dài hạn lại khác nhau Hiểu lơ mơ thì: – lãi suất và tỷ giá: tác động thông qua Interest parity condition (covered and uncovered) – ngắn hạn Đại loại là mặt bằng lãi suất ở các nước phải như nhau khi đo = cùng 1 đồng tiền. UIP: R$ = R€ + (expected E$/€ – E$/€)/E$/€ Lãi usd cao hơn phải được bù lại bằng mức euro tăng giá so với usd (trong kỳ đầu tư đó). Nếu không => nhà đầu tư đổi sang đồng tiền có lãi cao hơn => cung cầu thay đổi => đưa tỷ giá về mức cân bằng (chính xác là điều chỉnh lại mức kỳ vọng về thay đổi tỷ giá trong kỳ đầu tư). Lãi usd tăng lên => (expected E$/€ – E$/€)/E$/€ cũng phải tăng => E$/€ (tỷ giá hiện tại) giảm với giả thiết expected E$/€ (tỷ giá sau 1 kỳ đầu tư) ít thay đổi => usd tăng gía – lạm phát (dài hạn) theo relative PPP, ∆E$/€ / E$/€= πUS – πEU (Thay đổi trong tỷ giá = chênh lệch về lạm phát) Cái này không sát trong thực tế, nhưng về hướng thay đổi thì đúng? Nếu lạm phát ở Mỹ cao hơn EU thì E$/€ có hướng tăng, tức là USD theo hướng mất giá so với euro – cung cầu tiền thực tế (tạm thời): Cung cầu tiền thực tế sẽ xác định lãi suất Tăng cung tiền => giảm lãi suất => thông qua interest parity condition làm đồng nội tệ giảm giá – Về dài hạn, theo monetary approach to exchange rate (MAER): Cung tiền thay đổi mang tính dài hạn => ảnh hưởng đến giá cả => ảnh hưởng đến tỷ giá thông qua PPP Permanent increase trong money supply =>increase price level trong dài hạn => đồng nội tệ mất gía – Cán cân vãng lai: thâm hụt = vay nước ngoài để tiêu => cầu ngoại tệ lớn => nội tệ mất giá.

Yeah.. Đó một trong những lý thuyết phân lời căn bản tạo ra giá trị khác biệt của các đồng tiền. Nếu bác là một mutual fund manager như Bill Gross của Pimpco (Đại bàng của bond market) thì bác trade, well…chính xác hơn thì bác đầu tư, dựa theo nguyên lý này. Lý do là các đại bàng này vì quá lớn cho nên họ không có thể trade theo volatility hiện tại. Họ trade theo MACRO- ECONOMICS của thế giới. Ngược lại, nếu bác là cò con như tôi thì HƯỚNG ĐI của phân lời tương lai hầu như quyết định tất cả. Tôi viết hoa hai chữ hướng đi vì thật ra hướng đi đó là một KHÁI NIỆM, chứ chưa hẳn là sự thật thì giá đã thay đổi rồi. Một thí dụ ngay hôm nay để bác thấy đó là đồng Pound (GBP) của Anh Quốc. Cặp tiền GBPJPY là một cặp tiền hung hăn nhất của currency market. Đồng Pound đã lên thật nhiều so với đồng JPY trong khoảng đầu năm 2007 đến giữa năm. Nhưng rồi hiện tại, 2008, nó đã break down xuống khá sâu. Lý do? VIỄN ẢNH MỘT RATE CUT của Anh Quốc trong tương lai cộng thêm những mối lo sợ về subprime. Thí dụ này nói lên cho bác biết những giao động ngắn hạn trong currency market phần lớn, nếu không nói là hầu hết, đều xuất phát từ sự đổi thay về phân lời ngắn hạn của quốc gia.

Viet Currency

Source: Inter-Market Analysis Blog

—————————————————————-
Các bài viết phân tích chi tiết và tín hiệu giao dịch được update dành riêng cho khách hàng và học viên tại đây:
– Dịch vụ tư vấn phân tích: https://goo.gl/pHMMEb
– Khóa học online: https://goo.gl/3aEqyv
– Các bài phân tích cũ theo phương pháp phân tích liên thị trường:https://goo.gl/FaeoYK

Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles
Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!

http://intermarketanalysisblog.com