EXPERIENCE FINANCE EBOOKS

MƯU CHUYỆN LÂU DÀI – Chương X – Phần 01 (Ebook Chiến Tranh Tiền Tệ).

MƯU CHUYỆN LÂU DÀI – Chương X – Phần 01 (Ebook Chiến Tranh Tiền Tệ)

Cũng giống như tự do, vàng chưa bao giờ chịu khuất phục đến mức phải hạ thấp giá trị của nó . Maurier – 1878 .

Năm 1850, London được coi là vầng thái dương của hệ thống tài chính thế giới. Năm 1950, New York đã trở thành trung tâm tài chính toàn cầu. Vậy năm 2050, thành phố nào sẽ chiếm ngôi bá chủ tài chính quốc tế?

Kinh nghiệm của loài người trong lịch sử đã chứng tỏ rằng, những quốc gia hoặc khu vực đang nổi luôn tạo ra những giá trị to lớn về của cải vật chất với một sức sản xuất dồi dào hơn nhằm bảo đảm nguồn của cải của mình không bị lực lượng tiền tệ rẻ mạt của kẻ khác tước đoạt mất trong quá trình giao dịch. Những khu vực này luôn có động lực nội tại duy trì nguồn tiền tệ, giống như đồng bảng Anh bằng vàng vững chắc trong thế kỷ 19 hay đồng đô-la Mỹ bằng bạc và vàng thống soái toàn cầu trong thế kỷ 20. Xưa nay, của cải thế giới luôn tự động chảy về nơi có thể đảm bảo giá trị của chúng. Hệ thống tiền tệ vững chắc ổn định lại thúc đẩy mạnh mẽ sự phân công xã hội và sự phân bố hợp lý nguồn vốn cũng như tài nguyên thị trường, từ đó mà hình thành nên kết cấu kinh tế càng có hiệu suất hơn, của cải được sáng tạo ra càng nhiều hơn.

Ngược lại, khi một quốc gia cường thịnh bắt đầu đối mặt với sự phá sản, sức sản xuất của xã hội không ngừng giảm sút, những khoản chi chính phủ hoặc chi phí chiến tranh khổng lồ dần dần vét sạch mọi sự tích luỹ từ trước, chính phủ sẽ bắt đầu chiến lược giảm giá tiền tệ hòng thoát khỏi những khoản nợ chồng chất đồng thời đục khoét của cải của nhân dân. Lúc này, của cải sẽ không thể chảy ngược ra ngoài tìm đến những nơi có thể che chở cho nó.

Việc tiền tệ có vững mạnh hay không đã trở thành một dấu hiệu xuất hiện đầu tiên phản ánh sự thịnh suy của một quốc gia. Năm 1914, khi ngân hàng Anh tuyên bố đình chỉ việc hoán đổi vàng của đồng bảng Anh thì sự hùng mạnh của đế quốc Anh đã một đi không trở lại. Năm 1971, khi Nixon đơn phương đóng cửa thị trường vàng thì thời hoàng kim của Hoa Kỳ chỉ còn là hoài niệm. Nội lực của nước Anh đã tiêu tan một cách nhanh chóng trong khói lửa của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, còn nước Mỹ thì may mắn có thể duy trì sự phồn vinh trong một khoảng thời gian ngấn khi thế giới không có những cuộc chiến tranh lớn. Nhưng thực tế thì đó chỉ là hiện tượng “mạnh bạo xó bếp” như cha ông ta vẫn thường nói.

Nhìn từ góc độ lịch sử, chúng ta thấy rằng, quốc gia nào thao túng thị trường, hạ giá tiền tệ hòng lừa gạt chiếm đoạt của cải thì cuối cùng cũng sẽ bị của cải đè bẹp.

  1. Tiền tệ: Thước đo của kinh tế thế giới

Tiền tệ là thước đo cơ bản nhất, hạt nhân nhất trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, vai trò của tiền tệ cũng giống như các đại lượng đo lường quan trọng nhất như kilogam, mét, giây trong thế giới vật lý vậy. Mỗi một hệ thống tiền tệ đều dao động mãnh liệt mỗi ngày, và giống như định nghĩa kilogam, mét, giây, hệ thống tiền tệ cũng chứa đựng những sai lầm và vô lý.

Nếu có thước đo trong tay mà độ dài ngắn ngày này chẳng giống ngày kia thì các công trình sư phải làm thế nào để thi công một toà cao ốc cao đến mấy chục tầng? Và cho dù là xây dựng được đi nữa thì ai dám vào ở?

Nếu như tiêu chuẩn thời gian tính bằng giây trong thi đấu thể thao cứ thay đổi xoành xoạch một cách tuỳ tiện thì vận động viên làm sao có thể thực hiện việc so sánh thành tích thi đấu ở những cuộc đấu khác nhau?

Nếu như quả cân tiêu chuẩn của một thương gia vốn được mọi người tin dùng nhưng mỗi ngày lại được chủ nhân của nó thay đổi một chút (khiến cân không còn ổn định và chính xác nữa), thì còn ai dám làm ăn với ông ta?

Một trong những vấn đề căn bản của kinh tế thế giới ngày nay chính là không có một tiêu chuẩn đo lường tiền tệ ổn định và hợp lý, do đó chính phủ không thể tính toán chính xác quy mô của đời sống kinh tế, doanh nghiệp khó phán đoán chính xác tính hợp lý trong đầu tư dài hạn, bất cứ sự quy hoạch dài hạn nào của người dân đối với tài sản đều mất đi hệ tham chiếu an toàn. Vai trò của tiền tệ đối với nền kinh tế dưới sự thao túng tuỳ tiện và võ đoán của các ngân hàng đã làm sai lệch sự phân phối hợp lý của nguồn vốn thị trường một cách nghiêm trọng.

Khi tính toán lợi nhuận của việc đầu tư cổ phiếu, công trái, bất động sản, sản xuất, mậu dịch hàng hoá, hầu như mọi người chẳng thể nào hạch toán chính xác lợi nhuận đầu tư, bởi vì rất khó tính được mức độ co lại trong sức mua của tiền tệ. Từ năm 1971, sau khi thoát ly hoàn toàn khỏi vàng, sức mua của đồng đô-la Mỹ đã giảm xuống 94,4%, một đô-la Mỹ ngày nay chỉ đáng giá bằng 5,6 cent của thời kỳ đầu những năm 70.

“Hộ một vạn đồng“ là tiêu chí giàu có trong thập niên 80 ở Trung Quốc, còn trong thập niên 90, thuật ngữ này chỉ mức bình quân thu nhập thành thị, theo đó, giờ đây, người nào có mức thu nhập gia đình hàng năm vào khoảng một vạn đồng thì đã có thể được xếp vào loại “hộ nghèo”.

Các nhà kinh tế học chỉ “quan tâm” tới mức độ lạm phát của vật giá tiêu dùng, nhưng hiện tượng lạm phát tiền tệ tư sản cao đến mức khiến người ta khiếp sợ thì lại chẳng có ai chú ý. Chế độ tiền tệ như vậy là sự nghiêm trị tàn khốc đối với người tích luỹ, và điều này giải thích lý do tại sao cho dù thị trường cổ phiếu và bất động sản hết sức nguy hiểm nhưng nếu không đầu tư, người ta sẽ càng lâm vào cảnh nguy hiểm hơn.

Khi mua nhà, người mua được ngân hàng cấp cho một tờ giấy được gọi là biên nhận nợ. Các ngân hàng chẳng có nhiều tiền nhưng lại có thể tạo ra tiền, và tờ biên lai nợ lập tức bị hệ thống ngân hàng “tiền tệ hoá” khiến cho lượng tiền tệ lưu thông trên thị trường tăng lên chóng mặt, đẩy mức vật giá bình quân của toàn xã hội lên cao, đặc biệt là trong lĩnh vực nhà đất. Cho nên, khi không có các khoản vay bất động sản thì giá nhà không thể có mức cao như vậy, và mặc dù ngân hàng tuyên bố rằng họ giúp người dân gánh vác chi phí nhà ở, nhưng kết quả thì hoàn toàn ngược lại.

Các khoản cho vay bất động sản của ngân hàng cũng chẳng khác gì khoản thu nhập trong 30 năm tới của người dân bỗng dưng “bốc hơi” trong chốc lát. Và như vậy, giá nhà cửa, trị trường cổ phiếu, thị trường tín dụng có lý nào không tăng đột biến? Ngay sau khi mọi của cải tích luỹ trong 30 năm tới của người dân bốc hơi hết, giá bất động sản cũng trở nên cao chót vót tới mức người có thu nhập bình thường không thể nào với tới được. Nhằm giúp người dân có thể gánh vác được những khoản nợ và đối chọi với tình hình căng thẳng về giá bất động sản, các nhà ngân hàng đã thí điểm “sự cách tân vĩ đại” của “khoản nợ bất động sản suốt đời” tại Anh và Mỹ.

Nước Anh đã đưa ra khoản vay bất động sản đến 50 năm, còn ở bang California của Mỹ, người ta đang chuẩn bị thử nghiệm việc thế chấp tài sản kéo dài 45 năm. Và nếu như việc thí điểm này thu được thành công thì các khoản tiền tệ vay mượn sẽ xuất hiện với quy mô lớn hơn, thị trường bất động sản sẽ chào đón một “mùa xuân xán lạn” hơn, trong khi những người vay nợ ngân hàng sẽ bị trói chặt suốt đời vào các khoản nợ này, còn những người không mua nhà thì càng nghèo xơ xác. Vậy nếu như bữa tiệc nợ 50 năm của dân vẫn không thể làm no bụng các nhà ngân hàng thì sao? Chỉ e rằng, sẽ có ngày các hình thức “vay khế chấp vượt thời đại” theo kiểu “nợ cha con trả”, “nợ ông cháu trả“ cũng sẽ được tạo ra.

Trong khi khoản dự trữ ngoại hối 1 nghìn tỉ đô-la khiến người ta hân hoan thì các nhà tài phiệt ngân hàng lại cần phải phát hành thêm 8 nghìn tỉ nhân dân tệ để mua những “biên lai nợ của nước Mỹ”. Nếu đi vào lưu thông trong hệ thống ngân hàng thì toàn bộ số tiền phát hành thêm này sẽ được phóng đại lên gấp 6 lần. Nói chung là cần phải hoàn trả lãi suất công trái quốc gia, nhưng vấn đề là ai sẽ hoàn trả? Câu trả lởi là: người dân đóng thuế.

Khi giáo dục và y tế cũng được tiến hành “công nghiệp hoá” và chốc lát biến thành “tài sản độc chiếm” trong chế độ tài nguyên công cộng của toàn xã hội thì lợi nhuận của nó có lý nào không tăng vọt?

Trong khi chứng cứ giao dịch giữa các công ty trở thành loại “giấy nợ”, ngân hàng sẽ thu mua những thứ “giấy nợ” này với một mức chiết khấu nhất định để làm “tài sản” của ngân hàng, đồng thời “sáng tạo ra” tiền tệ mới.

Trong khi người dân dùng thẻ tín dụng để chi tiêu thì mỗi một tờ giấy có chữ ký phía sau đều trở thành một tờ giấy nợ, mỗi tờ giấy nợ đều trở thành “tài sản” của ngân hàng, mỗi khoản “tài sản” của ngân hàng đều trở thành tiền tệ phát hành thêm, hay nói cách khác, mỗi lần quét thẻ là một lần người ta tạo ra tiền tệ mới.

Nợ, nợ, và nợ. Đồng nhân dân tệ đang trượt nhanh xuống vực sâu của đồng tiền nợ.

Nhưng điều khác với Mỹ là Trung Quốc chưa có thị trường công cụ tài chính phái sinh “phát đạt” như của Mỹ để có thể hấp thu những khoản tiền phát hành thêm này. Sự tràn lan có tính lưu động này sẽ tập trung vào thị trường bất động sản và thị trường tín dụng hay cổ phiếu, hầu như chẳng có thủ đoạn nào có thể khống chế hiệu quả nạn “lạm phát tiền tệ tư sản siêu cấp” trong những lĩnh vực này. Câu chuyện thần thoại về thị trường cổ phiếu, sự nóng bỏng của bất động sản năm đó của Nhật sẽ tài hiện ở Trung Quốc.

Các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đang chờ đợi một vở kịch hay từ quả bóng siêu hạng của nền kinh tế Đông A khác. Khi nói rằng nền kinh tế Trung Quốc khó làm nên trò trống gì, chẳng phải là bà Thatcher đang muốn hù doạ hay sao? Mà kiến thức của những người như bà về nền kinh tế bong bóng này có thể nói là rất sâu rộng. Trong khi quả bong bóng tiền tệ nợ phình lên đến mức độ nhất định, các nhà kinh tế học nổi tiếng quốc tế sẽ từ các xó xỉnh chui ra, những tin tức phản diện và lời cảnh báo đối với nền kinh tế Trung Quốc sẽ trở thành các tiêu đề lớn xuất hiện dày đặc trên phương tiện truyền thông chính của thế giới. Và lúc này, các sát thủ kinh tế đã không còn nhẫn nại sẽ cùng nhau xông lên như bầy ác thú khiến cho các nhà đầu tư trong nước và quốc tế hồn lạc phách xiêu.

Một khi chế độ dự trữ vàng cục bộ và tiền vay nợ được giải phóng, sự phân hoá giàu nghèo trên thế giới được xác định, trong xã hội sẽ xuất hiện những người chuyên đi vay tiền ngân hàng mua sắm của cải để hưởng thụ “lợi ích” của lạm phát lưu thông tiền tệ, Ngay sau khi chế độ dự trữ vàng cục bộ và tiền vay nợ lũng đoạn được “thông lệ“ của ngân hàng quốc tế, trong khi những người dân tích luỹ mất đi các công cụ để bảo vệ tài sản của mình thì các ngân hàng lại là những người gặt hái được nhiều lợi nhuận nhất.

Tiền nợ và chế độ dự trữ vàng cục bộ sẽ tạo ra “n” sự mất giá của loại tiền tệ “giấy nợ + sự hứa hẹn” này, với “thước đo liên tục mất giá như vậy, thì nền kinh tế làm sao có thể đủ sức phát triển ổn định và hài hoà được?

Trong thời đại mà cụm từ “tiêu chuẩn hoá“ luôn thường trực trên môi người đời nhưng lại không có bất cứ chuẩn mực nào trong việc đo lường tiền tệ thì điều này chẳng phải là ngớ ngẩn hay sao?

Trong khi bản chất của chế độ dự trữ vàng cục bộ và tiền tệ nợ được chúng ta thấu hiểu thì sự hoang đường của nó cũng sẽ lộ rõ.

Không có một thước đo tiền tệ ổn định thì không thể có được nền kinh tế phát triển cân bằng, không thể có được nguồn vốn thị trường được phân phối hợp lý, và đương nhiên sẽ tạo nên sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, khiến cho của cải của xã hội dần rơi vào tay ngành tài chính, việt xã hội trở nên hài hoà chỉ có thể là điều huyễn hoặc mà thôi.

  1. Vàng và bạc: Bùa ổn định giá cả

Ngày 13 tháng 7 năm 1974, tạp chí The Economist đã đăng tải một bản báo cáo thống kê vật giá trong suốt thời kỳ cách mạng công nghiệp Anh khiến người ta phải kinh ngạc.

Trong khoảng thời gian 250 năm từ năm 1664 đến năm 1914, dưới sự vận hành của bản vị vàng, vật giá tại Anh đã duy trì được xu thế bình ổn và giảm nhẹ. Trong thế giới ngày nay, không thể nào tìm ra một quốc gia thứ hai có thể duy trì chỉ số vật giá bình ổn lâu dài và liên tục không ngừng như vậy.

Sức mua của đồng bảng Anh được đảm bảo tính ổn định đáng kinh ngạc. Nếu chỉ số vật giá của năm 1664 được xác lập là 100, thì trừ thời kỳ chiến tranh Napoleon (năm 1813) có mức vật giá tăng tạm thời đến 180, trong khoảng thời gian còn lại chỉ số vật giá đều thấp hơn tiêu chuẩn của năm 1664.

Khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ vào năm 1914, chỉ số vật giá của Anh là 91. Hay nói cách khác, dưới thể chế của bản vị vàng, sức mua của một đồng bảng Anh tại thời điểm năm 1914 còn mạnh hơn một đồng bảng Anh của 250 năm trước (năm 1664).

Dưới chế độ bản vị vàng và bạc, tình hình giá cả cũng tương tự như vậy. Năm 1787, Điều 8 Chương 1 hiến pháp Mỹ trao quyền cho Quốc hội phát hành và định giá tiền tệ.

Điều 10 quy định rõ ràng, tất cả các bang không được dùng bất cứ một loại tiền tệ nào không được quy định ngoài vàng và bạc để chi trả nợ nần, từ đó đã xác định rõ tiền tệ của Mỹ cần phải lấy vàng và bạc làm cơ sở. “Pháp lệnh tiền đúc 1792” đã xác lập đồng 1 đô-la Mỹ là đơn vị cơ bản của tiền tệ Mỹ, định giá chính xác của 1 đồng đô-la Mỹ là gồm 24,1g bạc thuần, định giá của 10 đô-la Mỹ là gồm 16g vàng thuần. Bạc trắng được dùng làm cơ sở của hệ thống tiền đô-la Mỹ. Tỉ giá giữa vàng và bạc là 15:1. Bất kể người nào pha loãng độ thuần chất của đồng đô-la Mỹ, khiến cho đồng đô-la Mỹ mất giá trị đều sẽ đối mặt với án tử hình.

Năm 1800, chỉ số vật giá của Mỹ ở vào khoảng 102,2, đến năm 1913, chỉ số này hạ xuống còn 80,7. Trong suốt thời kỳ xảy ra những biến đổi lớn trong công nghiệp hoá của Mỹ, biên độ dao động vật giá không vượt quá 26%, còn trong thời đại bản vị vàng từ năm 1879 đến năm 1913, biên độ dao động vật giá ở mức 17%. Trong suốt 113 năm với những biến đổi lớn trong lịch sử công nghiệp hoá đất nước và phát triển sản xuất của Mỹ, tỉ lệ lạm phát tiền tệ bình quân hầu như là bằng 0, dao động giá cả hàng năm không quá 1,3%(1).

Tương tự dưới bản vị vàng, tiền tệ của các quốc gia chủ yếu ở châu Âu trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp cũng duy trì được tính ổn định cao độ như vậy.

Đồng francs Pháp, từ năm 1814 đến 1914 ổn định 100 năm.

Đồng florin Hà Lan, từ năm 1816 đến năm 1914, ổn được 98 năm.

Đồng francs Thụy Sĩ, từ năm 1850 đến năm 1936, ổn định được 86 năm.

Đồng francs Bỉ, từ năm 1832 đến năm 1914, ổn định được 82 năm.

Đồng khoa Thuỵ Điển, từ năm 1873 đến năm 1931, ổn định được 58 năm.

Đồng mác Đức, từ năm 1875 đến năm 1914, ổn định được 39 năm.

Đồng lia ý, từ năm 1883 đến năm 1914, ổn định được 31 năm(2).

Mises đã đánh giá bản vị vàng là thành tựu cao nhất trong toàn bộ nền văn minh phương Tây ở thời đại hoàng kim của chủ nghĩa tư bản. Nếu không có một thước đo tiền tệ ổn định và hợp lý, sức sáng tạo của cải vô cùng lớn mà nền văn minh phương Tây đã thể hiện ra trong giai đoạn phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản sẽ là một chuyện vượt ngoài sức tưởng tượng.

Hệ thống giá cả ổn định cao được hình thành trong quá trình tiến hoá tự nhiên của vàng và bạc trên thị trường, có thể khiến cho các nhà hoạch định kinh tế “thiên tài” của thế kỷ 20 xấu hổ toát mồ hôi hột. Vai trò tiền tệ của vàng và bạc được xem là sản phẩm của quá trình tiến hoá tự nhiên, là sản phẩm của nền kinh tế thị trường chân chinh, là tiền tệ thực đáng tin cậy của loài người.

Cái được gọi là thước đo tiền tệ chính là cái không bị thay đổi vì bản tính tham lam của những trùm tài chính, vì sự hiếu chiến của chính phủ hay vì sự dầu cơ lợi ích của các nhà kinh tế học “thiên tài”. Trong lịch sử chỉ có tiền vàng và bạc – sản phẩm được sinh ra từ sự tiến hoá tự nhiên của thị trường – mới có thể làm được điều này, và trong tương lai cũng chỉ có vàng và bạc mới có thể gánh vác được trọng trách lịch sử này. Chỉ có vàng và bạc mới có thể bảo vệ thực sự cho tài sản của nhân dân cũng như sự phân bố hợp lý các nguồn tài nguyên trong xã hội.

Các nhà kinh tế học đương đại có một thứ quan điểm khá thịnh hành khi cho rằng tốc độ gia tăng của vàng và bạc không thể đuổi kịp tốc độ gia tăng của của cải, dưới hệ thống tiền tệ là vàng và bạc, tình trạng thiếu hụt tiền tệ sẽ xảy ra, mà điều này lại là kẻ thù cố hữu của mọi nền kinh tế. Trên thực tế thì đây chỉ là một quan điểm chủ quan cá nhân sai lầm. Luận điểm xuyên tạc “lạm phát tiền tệ hợp lý“ hoàn toàn là cơ sở lý luận được tạo nên bởi sự hợp sức của nhà ngân hàng quốc tế và nhóm Keynes với mục đích chính là phế bỏ bản vị vàng, từ đó thông qua thủ đoạn lạm phát tiền tệ để “thu thuế một cách kín đáo” đối với người dân, tiến hành cướp đoạt và ăn cắp một cách “sạch sẽ” của cải của nhân dân. Từ thực tiễn xã hội của các quốc gia chủ yếu ở Âu Mỹ như Anh và Mỹ thế kỷ 17 đến nay, sự thực không thể bác bỏ đã chứng minh rằng sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội hoàn toàn không gây nên lạm phát tiền tệ. Trên thực tế, hai nước Anh, Mỹ đều đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp trong tình hình thiếu hụt tiền tệ lưu thông ở mức độ nhẹ.

Vấn đề thực sự chưa hẳn là tốc độ tăng trưởng của vàng và bạc không theo kịp tốc độ tăng trưởng của của cải mà là không theo kịp tốc độ tăng trưởng của công nợ. Và lạm phát công nợ mới có hại cho sự phát triển xã hội.

  1. Khối mỡ công nợ và GDP giảm béo

[sociallocker]

Mô hình phát triển kinh tế với sự tăng trưởng GDP cũng chẳng khác nào việc tăng thể trọng là nhiệm vụ trọng tâm của sức khoẻ vậy. Việc chính phủ dùng chính sách lấy bội chi tài chính để kéo kinh tế tăng trưởng cũng chẳng khác nào dùng chất kích thích để tăng cường thể trọng vậy. Và tiền tệ công nợ chính là phần chất béo được phát triển thêm.

Một người mà trông cứ ngày thêm phì nộn thì liệu anh ta có thật sự khỏe mạnh không?

Mô hình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia không nằm ngoài hai dạng thức sau: một là do của cải chân chính có được từ sự tích luỹ, sau đó những nguồn vốn vàng bạc thật này được dùng vào đầu tư, từ đó lại tạo nên của cải thực tại nhiều hơn trước, kinh tế xã hội cũng nhờ đó mà tiến bộ, điều mà sự tăng trưởng kinh tế theo mô hình này mang lại chính là sự phát triển của phần cơ thịt của nền kinh tế, sự cứng cáp khỏe mạnh của gân cốt nền kinh tế, sự cân bằng trong phân bố dinh dưỡng của nền kinh tế. Tuy hiệu quả trước mắt là chậm chạp, nhưng chất lượng tăng trưởng cao, ít gây ra tác dụng phụ.

Một mô hình khác chính là dùng các khoản vay nợ để kích hoạt sự tăng trưởng của nền kinh tế khiến quốc gia, doanh nghiệp và cá nhân phải gánh chịu những khoản nợ khổng lồ. Sau khi được tiền tệ hoá qua hệ thống ngân hàng, những khoản nợ này lại tăng lên với những con số khổng lồ và gây cho người ta cảm giác rằng của cải đang được tăng lên như thể quả bong bóng được bơm căng vậy. Vì vậy, tiền tệ đương nhiên sẽ trở nên mất giá dẫn đến sự cách biệt nghiêm trọng trong phân hoá giàu nghèo mà hậu quả của nó là lượng mỡ dư thừa của nền kinh tế đang càng ngày càng tăng lên. Việc phát triển kinh tế theo mô hình dùng nợ để kích thích chẳng khác nào người ta dùng thuốc kích thích tăng trưởng tiêm vào cơ thể nhằm trở nên béo tốt một cách cấp tốc, tuy hiệu quả là rõ rệt chỉ sau một thời gian ngắn, song tác dụng phụ tiềm ẩn của những thứ hoóc-mon tăng trưởng cấp kỳ ấy cuối cùng rồi cũng sẽ dẫn đến đủ loại biến chứng bột phát. Và đến khi đó, các loại thuốc mà cơ thể của nền kinh tế nhất định phải cần dùng đến ngày càng nhiều để rồi cứ thế đầu độc hệ thống nội tiết của cơ thể nền kinh tế, gây ra sự nổi loạn triệt để của môi trường sinh thái bên trong cơ thể, cuối cùng là vô phương cứu chữa.

Căn bệnh đầu tiên mà công nợ sinh ra chính là chứng cao huyết áp trong nền kinh tế – nạn lạm phát tiền tệ, đặc biệt là lạm phát tài sản. Ở một phương diện khác, chứng bệnh này lại dẫn đến tình trạng dư thừa trong sản xuất, tạo ra sự xáo trộn về cấu trúc của nền kinh tế, gây lãng phí lớn cho nguồn vốn thị trường, tạo ra cuộc chiến giá cả khốc liệt trong sản xuất cũng như nạn lạm phát hàng hoá tiêu dùng. Gia đình được xem là tế bào chính của cơ thể nền kinh tế, vậy nhưng, tế bào này đang bị đe doạ không chỉ bởi nạn lạm phát tiền tệ mà còn bởi tình trạng giãn thợ đang tăng lên hàng ngày. Những điều này đã làm suy giảm sức tiêu thụ trong dân chúng và khiến cho cơ thể nền kinh tế thiếu đi sức sống.

Một chứng bệnh khác do khối mỡ công nợ tạo nên chính là lượng mỡ cao trong máu của nền kinh tế.

Ngay sau khi các khoản công nợ được tiền tệ hoá, tiền tệ sẽ không còn khan hiếm, mà xuất hiện tràn lan khắp mọi ngóc ngách của xã hội. Tiền càng ngày càng nhiều nhưng cơ hội đầu tư thì lại ngày càng ít đi. Dưới chế độ bản vị vàng, đặc trưng chủ yếu của thị trường cổ phiếu là cơ cấu tài chính của công ty lên sàn khá vững chắc, tình trạng công nợ không có nguy cơ, nguồn vốn dồi dào, mức lợi nhuận tăng trưởng ổn định, cổ tức của cổ phiếu tăng đều theo hàng năm, thị trường cổ phiếu tuy có mạo hiểm, nhưng lại là một thị trường thực sự đáng để đầu tư. Mà các thị trường cổ phiếu chủ yếu của thế giới ngày nay lại ngập trong các khoản tiền nợ và bị danh giá quá với giá trị thực của nó, các nhà đầu tư khó mà trông chờ vào lợi nhuận cổ tức cho dù vẫn luôn nuôi hi vọng vào khả năng tăng giá của cổ phiếu. Thị trường chứng khoán ngày càng mất đi tính đầu tư mà dần biến thành một sòng bạc với đầy rẫy những điểm khác thường. Tình trạng bất động sản cũng giống hệt như vậy.

Bản thân các khoản nợ đã khiến cho mạch máu kinh tế trở nên dễ vỡ hơn, việc tăng lượng phát hành tiền nợ sẽ khiến cho huyết dịch kinh tế sánh đặc lại, lượng lớn vốn lắng đọng trên thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản sẽ khiến huyết quản kinh tế càng thêm tắc nghẽn, triệu chứng cao huyết áp của nền kinh tế sẽ không thể tránh khỏi.

Trạng thái cao huyết áp trong nền kinh tế sẽ càng tăng thêm gánh nặng cho trái tim kinh tế – thứ được coi là môi trường và tài nguyên mà nhân dân dùng để sáng tạo ra của cải.

Gánh nặng công nợ sẽ gây nên tình trạng bội chi nghiêm trọng, môi trường sinh thái bị ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt, hệ sinh thái mất cân đối, khí hậu biến đổi, thiên tai liên miên…Chính những điều này đã dẫn đến tình trạng chồng chất trong công nợ của dân chúng. Sự phân hoá giàu nghèo, dao động kinh tế, mâu thuẫn xã hội, tham ô hủ bại là những mối hiểm hoạ đối với một xã hội lành mạnh. Trong khi tất cả những căn bệnh như lượng mỡ cao trong máu, cao huyết áp – những chứng bệnh do chất mỡ tiền tệ công nợ gây ra – cùng phát tác và tồn tại thì hệ thống nội tiết tự nhiên của cả cơ thể kinh tế sẽ rơi vào trạng thái rối loạn, khả năng hấp thụ dinh dưỡng kém, các cơ quan nội tạng tổn thương nghiêm trọng, quá trình đổi mới trong cơ thể không thể vận hành bình thường, hệ thống miễn dịch mất đi sức đề kháng. Nếu chọn biện pháp đau gì trị nấy thì việc này sẽ gây ra hiện tượng nhờn thuốc, từ đó mà càng làm suy thoái trầm trọng hơn hệ thống nội tiết của cơ thể nền kinh tế.

Ngay sau khi đã nhận thức rõ bản chất và sự nguy hại của tiền tệ công nợ thì chúng ta cần phải thực hiện việc điều chỉnh tương ứng đối với chiến lược phát triển kinh tế. Nghĩa là từ mô hình cũ lấy tăng trưởng GDP làm kim chỉ nam, lấy tiền tệ công nợ làm cơ sở, lấy bội chi tài chính làm tăng trưởng, chúng ta cần phải chuyển biến sang mô hình phát triển mới lấy xã hội và sự phát triển hài hoà làm trung tâm, dùng tiền tệ thật làm thước đo, dùng tích luỹ để thúc đẩy phát triển. Chúng ta cũng phải từng bước xây dựng một hệ thống thước đo tiền tệ ổn định dùng vàng và bạc làm điểm tựa, từng bước loại trừ công nợ ra khỏi dòng lưu thông tiền tệ, nâng cao tỉ lệ dự trữ vàng trong ngân hàng và xem đó là phương pháp quan trọng trong việc kiểm soát và điều hành tài chính khiến cho tỉ suất lợi nhuận của ngành tài chính ngang bằng với tỉ suất lợi nhuận bình quân của các ngành công nghiệp khác trong xã hội. Chỉ khi nào trị tận gốc hai căn bệnh dai dẳng là tiền tệ công nợ và chế độ dự trữ vàng cục bộ này, chính phủ mới có thể đảm bảo được sự công bằng và hài hoà trong xã hội.

Việc loại bỏ tiền nợ ra khỏi hệ thống lưu thông tiền tệ phải là một quá trình lâu dài, gian khổ, giống như quá trình giảm béo vậy. Cắt giảm lượng thức ăn, điều chỉnh cơ cấu bữa ăn, tăng cường lượng vận động thể dục… tất cả những việc này thực sự khó khăn hơn nhiều so với chuyện trốn mình trong chiếc chăn ấm áp của tiền nợ tăng sinh. Việc siết chặt lưu thông tiền tệ cũng giống sự rèn luyện ý chí và sức chịu đựng của con người, giống như khi chúng ta đi bơi vào sáng sớm mùa đông vậy. Sau những gian khổ ban đầu, tính linh hoạt của nền kinh tế sẽ tăng cường rõ rệt, hệ thống đề kháng lại với các loại xung đột khủng hoảng kinh tế sẽ càng thêm hoàn thiện, áp lực môi trường sinh thái sẽ giảm nhẹ, sự phân phối tài nguyên trên thị trường cũng sẽ hợp lý hơn. Dĩ nhiên, các chứng bệnh trong cơ thể nền kinh tế sẽ thuyên giảm, hệ thống nội tiết tự nhiên trong cơ thể nền kinh tế sẽ từng bước khôi phục chức năng khiến cho cả xã hội sẽ trở nên hài hoà và khỏe mạnh.

Khi Trung Quốc mở cửa hoàn toàn lĩnh vực tài chính, cần phải nhận thức rõ ưu thế và điểm yếu của chế độ tài chính phương Tây đồng thời phải tỏ ra cởi mở, phải có dũng khí và mưu trí nhằm sáng tạo ra cái mới một cách hiệu quả. Thông thường, những quốc gia quật khởi trong lịch sử đều có những cống hiến mang tính khai sáng đối với sự phát triển của xã hội loài người. Trung Quốc đang ở trên “bước ngoặt chiến lược” đặc biệt này.

  1. Ngành tài chính: “Không quân chiến lược” của Trung Quốc trong phát triển kinh tế

Vị thế của tiền tệ dự trữ trên thế giới đại diện cho quyền lực tối thượng trong việc phát hành tiền tệ với đầy đủ sự tin cậy.

Không ít người cảm thấy khó hiểu vì sao Trung Quốc không có quyền định giá trên thị trường quốc tế. Wal-Mart có thể ép các doanh nghiệp Trung Quốc đến mức ai cũng phải xót xa. Các nhà kinh tế học giải thích rằng, bởi vì họ là người tiêu dùng lớn nhất, đại diện cho thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới – nước Mỹ. Và bởi vậy, họ là người có quyền định giá. Cũng có người giải thích rằng, vì đang nắm giữ các kênh tiêu thụ của thị trường Mỹ, nên Wal-Mart có quyền định giá.

Vậy còn các mỏ khoáng sản, mỏ dầu, dược phẩm, máy bay chở khách, phần mềm thì sao? Trung Quốc là một trong những thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới, và như vậy, trong vai trò là người tiêu dùng lớn nhất thế giới, làm sao mà quốc gia này có thể để cho kẻ khác chèn ép và thao túng giá cả?

Vì thiếu một chiến lược tài chính đúng đắn nên Trung Quốc không có quyền định giá. Trong một giai đoạn lịch sử rất dài, nền kinh tế Trung Quốc phát triển dựa trên nguồn vốn nước ngoài, nhưng nếu không có chính sách mở cửa hội nhập với nguồn vốn nước ngoài thì quốc gia này cũng sẽ không có sự phát tiền kinh tế như hiện nay. Trung Quốc có thể trở thành đối tượng nhận nguồn vốn nước ngoài, nhưng cũng có thể đối tượng đó là Ấn Độ. Nguồn vốn này có thể được róc một quốc gia nhưng cũng có thể được rút ra khỏi quốc gia đó. Ai khống chế được quyền lưu động vốn, kẻ đó sẽ có đầy đủ quyền định giá thật sự.

Các doanh nghiệp trên thế giới bất kể thuộc top 500 hay 100, bất kể là gã khổng lồ trong ngành công nghiệp xe hơi hay công nghiệp máy tính, đều cần đến tài chính. Đối với doanh nghiệp thì tiền cũng giống như không khí và nước với cơ thể sống vậy. Đối với các ngành nghề khác trong xã hội, tài chính là người chủ tuyệt đối. Ai khống chế được lưu thông tiền tệ, kẻ đó có thể quyết định sự hưng thịnh suy vong của bất cứ doanh nghiệp nào.

Nếu như cần công ty mỏ sắt của Úc giảm giá, chỉ cần một cú điện thoại là các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đang lũng đoạn quyền phát hành đô-la Mỹ có thể ung dung. Công ty có còn cần đến nguồn tài chính nữa hay không? Nếu như không đáp ứng yêu cầu, công ty này sẽ có nguy cơ bị dồn vào thế cùng đường trên thị trường tài chính quốc tế. Giá cổ phiếu của họ có thể bị khống chế trên thị trường chứng khoán, cho đến khi công ty này “quỵ” hẳn mới thôi. Vũ khí sát thủ của các ông trùm tài chính quốc tế là cắt đứt nguồn năng lượng của doanh nghiệp, buộc đối thủ phải tuân theo mọi sự chi phối và điều khiển của mình.

Các ông trùm tài chính quốc tế cũng được ví như không quân chiến lược của một quốc gia vậy. Không có sự chi viện tấn công của không quân, các ngành nghề trên mặt đất chắc chắn sẽ rơi vào cuộc chiến giáp lá cà vô cùng thảm khốc với các quốc gia khác, thậm chí còn tự giết nhau, phá giá nhau, làm tổn hao vốn liếng của nhau hoặc phá hoại môi trường làm việc của nhau.

Trên thị trường quốc tế, nếu không khống chế được nguồn tài chính thì bất cứ một thể chế nào cũng không có quyền định giá sản phẩm và cũng không có quyền chủ động chiến lược trong phát triển kinh tế.

Vì vậy chừng nào đồng tiền của Trung Quốc trở thành tiền tệ dự trữ của thế giới, chừng đó quốc gia này mới có hi vọng được trở thành thành viên tham gia vào việc định giá tài chính trên thế giới.

Vậy đồng tiền nào có thể trở thành tiền tệ dự trữ của các nước trên thế giới? Sở dĩ đồng bảng Anh và đồng đô-la Mỹ đều đã từng là những đồng tiền mạnh trong quần hùng tiền tệ thế giới là do nền kinh tế của các quốc gia này có được hệ thống tiền tệ ổn định làm chuẩn, hệ thống sản xuất phát triển mạnh mẽ, từng bước đóng vai trò then chốt trong hệ thống thanh toán thương mại thế giới. Cơ sở tạo nên sự tín nhiệm này đối với đồng bảng Anh và đồng đô-la Mỹ chính là vàng và bạc. Trong quá trình phát triển của hai nước này, mạng lưới ngân hàng của các quốc gia này đã từng bước phủ khắp thế giới, đồng bảng Anh và đồng đô-la Mỹ có thể được chuyển thành vàng một cách tự do và thuận tiện, được thị trường chấp thuận, vì thế mà những đồng tiền này còn được được gọi là “ngoại tệ mạnh”. Sau khi thế chiến thứ hai kết thúc vào năm 1945, Mỹ đã từng nắm giữ đến 70% lượng dự trữ vàng của thế giới, cho nên đồng đô-la Mỹ được mọi người gọi là “Mỹ kim”. Thước đo của cải ổn định được bảo đảm bởi bản vị vàng và bạc không chỉ là sự đảm bảo cho nền kinh tế Anh – Mỹ luôn giữ vị thế nổi trội mà còn là tiền đề lịch sử khiến cho đồng bảng Anh và đồng đô-la Mỹ trở thành một loại tiền tệ dự trữ của thế giới.

Năm 1971, sau khi hệ thống tiền tệ thế giới tách ra khỏi sự ràng buộc với vàng, uy lực của đồng tiền các nước đã bị tổn hại nghiêm trọng. Năm 1971, một ounce vàng trị giá 35 đô-la Mỹ, đến năm 2006, một ounce vàng đã nhảy lên 630 đô-la Mỹ (ngày 23 tháng 11 năm 2006). Trong suốt 35 năm nay kể từ năm 1971 cho đến 2006, so với giá vàng thì:

  • Đồng lia (Ý) đã giảm xuống 98,2% (kể từ năm 1999 về sau quy ra đồng euro).
  • Đồng francs Thuỵ Điển đã giảm 96%
  • Đồng bảng Anh đã giảm 95,7% Đồng francs Pháp đã giảm 95,2% (kể từ nam 1999 về sau quy ra đồng euro)
  • Đồng đô-la Canada đã giảm 95,1%
  • Đồng đô-la Mỹ đã giảm 94,4% Đồng mác Đức đã giảm 89,7% (tử năm 1999 về sau quy ra đồng euro)
  • Đồng yên Nhật đã giảm 83,3%
  • Đồng francs Thuỵ Sĩ đã giảm 81,5%

Việc hệ thống đồng đô-la Mỹ cuối cùng sẽ sụp đổ vẫn là một logic phải xảy ra. Nếu nói đồng đô-la Mỹ không đáng tin cậy thì thế giới sẽ dựa vào đồng tiền công nợ nào đây?

Hiện nay, trong số các đồng tiền công nợ “hiện đại” hiện có ở phương Tây, không có đồng tiền nào mạnh hơn đồng francs Thuỵ Sĩ. Nguyên nhân khiến cả thế giới tin tưởng cao độ vào đồng francs Thuỵ Sĩ hết sức đơn giản bởi giá trị của đồng francs Thuỵ Sĩ được đảm bảo bằng 100% vàng và có giá trị ngang với vàng. Một đất nước hình viên đạn với vẻn vẹn 7,2 triệu dân, nhưng lượng dự trữ vàng của Ngân hàng Trung ương nước này lên đến 2.590 tấn (năm 1990), chiếm 8% tổng lượng dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương trên thế giới, chỉ đứng sau Mỹ, Đức và quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Khi gia nhập tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) năm 1992, Thuỵ Sĩ buộc phải tách đồng francs của mình ra khỏi mối quan hệ với vàng. Và như vậy, mức độ đảm bảo bằng vàng của đồng francs Thuỵ Sĩ suy giảm dần, đến năm 1995, chỉ còn lại 43,2%. Đến năm 2005, Thuỵ Sĩ chỉ còn lại 13.321 tấn vàng, nhưng so với số vàng dự trữ của Trung Quốc (600 tấn) thì con số này vẫn nhiều gấp hai lần. Cùng với sự sụt giảm lượng vàng bảo đảm cho đồng francs Thuỵ Sĩ, sức mua của đồng tiền này cũng ngày càng trở nên suy yếu.

Lượng dự trữ vàng của Nhật Bản năm 2005 chỉ có 765,2 tấn. Tuy nhiên, có một nghịch lý là, không phải Nhật không muốn tăng lượng dự trữ vàng, mà nước này đang bị Mỹ ngăn cản. Ferdinand Lips – một chuyên gia về vàng đồng thời là một nhà ngân hàng có tiếng ở Thuỵ Sĩ – đã cùng với gia tộc Rothschild lập nên Ngân hàng Rothschild Bank AG tại Zurich và điều hành ngân hàng này trong nhiều năm. Đến năm 1987, ông đã thành lập Bank Lips AG tại Zurich – một thành viên “ruột thịt” của đế chế tài chính quốc tế. Trong cuốn “Chiến tranh vàng bạc” của mình, ông đã tiết lộ rằng, trong hội nghị hiệp hội vàng thế giới được tổ chức ở Paris, một quan chức dấu tên làm việc trong ngành ngân hàng của Nhật đã phàn nàn với Ferdinand Lips rằng, chỉ cần hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ còn hiện diện ở Nhật Bản để “bảo vệ sự an toàn” cho nước này thì chính phủ Nhật Bản vẫn bị cấm dự trữ thêm vàng(3).

Trước mắt, Trung Quốc đã có nguồn dự trữ ngoại hối lên đến 1 nghìn tỉ đô-la Mỹ, và việc sử dụng khoản tài sản khổng lồ này có liên quan đến vận mệnh trăm năm của Trung Quốc trong tương lai. Đây không đơn giản là vấn đề mạo hiểm phân tán tài chính mà điều quan trọng là Trung Quốc phải xem xét làm thế nào để giành được quyền chủ động chiến lược trong cuộc chiến tranh tài chính quốc tế sắp phái ra để chiếm lấy vị thế bá chủ tiền tệ trong thời đại “hậu đô-la Mỹ“ trên thế giới. Cuối năm 2006, Trung Quốc đã mở cửa hoàn toàn lĩnh vực tài chính. Các ngân hàng quốc tế đã sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh tiền tệ không mùi khói đang cận kề. Lần này, người ta sẽ không thấy cảnh pháo Tây súng Tây, cũng không nghe thấy tiếng thét nơi chiến trường, nhưng kết cuộc sau cùng của cuộc chiến này sẽ quyết định đến số phận tương lai của Trung Quốc. Bất kể có ý thức được hay không, có chuẩn bị tốt hay không, sớm muộn Trung Quốc cũng sẽ phải đương đầu với một cuộc chiến tranh tiền tệ – một cuộc chiến không tuyên mà chiến. Chỉ khi phán đoán rõ ràng và chính xác về mục đích chiến lược chủ yếu và phương hướng tấn công chính của các ngân hàng quốc tế, quốc gia này mới có thể đặt ra một sách lược phản ứng hiệu quả.

Có hai mục đích chiến lược căn bản trong cuộc đổ bộ ồ ạt của các ngân hàng quốc tế vào Trung Quốc: khống chế quyền phát hành tiền tệ của Trung Quốc, tạo ra “cuộc giải thể có kiểm soát” đối với nền kinh tế Trung Quốc, và cuối cùng lập nên một “chính phủ thế giới” và “tiền tệ thế giới” dưới sự chi phối chủ đạo của trục London – phố Wall.

Có lẽ mọi người đều biết rằng, người nào có thể lũng đoạn được nguồn cung ứng của một loại sản phẩm thì kẻ đó sẽ có được lợi nhuận siêu cấp. Mà tiền tệ là một thứ sản phẩm ai ai cũng cần, nếu người nào lũng đoạn được quyền phát hành tiền tệ của một quốc gia, kẻ đó sẽ nắm giữ được công cụ tạo ra nguồn lợi nhuận vô hạn. Đây chính là lý do giải thích tại sao trong hàng mấy trăm năm qua, các ngân hàng quốc tế đã vò đầu vắt óc, dồn tâm suy nghĩ, không từ bất kỳ âm mưu thủ đoạn nào để lũng đoạn được quyền phát hành tiền tệ của một quốc gia và mục tiêu cao nhất của họ là lũng đoạn quyền phát hành tiền tệ của toàn thế giới.

Xét về tổng thể, rõ ràng ngân hàng quốc tế đang ở vào thế chủ động tấn công chiến lược, trong khi các ngân hàng của Trung Quốc lại lâm vào thế thúc thủ, và so với ngân hàng quốc tế – kẻ đã chơi trò ảo thuật với tiền tệ trên thế giới hàng trăm năm qua – thì các ngân hàng Trung Quốc rõ ràng là yếu kém về nhiều mặt, từ vốn liếng, nguồn nhân lực, mô hình kinh doanh, hạ tầng cơ sở kỹ thuật cho đến hệ thống pháp lý. Nếu muốn tránh khỏi nguy cơ thất bại toàn diện trong cuộc chiến này, Trung Quốc chỉ có một lựa chọn duy nhất: “anh đánh theo cách của anh, tôi đánh theo cách của tôi”, và quyết không đánh theo cách mà đối phương hoạch định.

Đây là một cuộc chiến tranh tiền tệ chỉ có hai con đường hoặc thất bại hoặc chiến thắng. Nếu không bị “đế quốc La Mã mới” chinh phục trong cuộc chiến này thì trong quá trình đập tan đối thủ, Trung Quốc sẽ xây dựng nên một trật tự mới về tiền tệ trên thế giới.

Chiến Tranh Tiền Tệ – SONG HONGBING

Dịch giả: Hồ Ngọc Minh

Hiệu đính: Nguyễn Giang Chi

—————————————————————-
Các bài viết phân tích chi tiết và tín hiệu giao dịch được update dành riêng cho khách hàng và học viên tại đây:
– Dịch vụ tư vấn phân tích: https://goo.gl/pHMMEb
– Khóa học online: https://goo.gl/3aEqyv
– Các bài phân tích cũ theo phương pháp phân tích liên thị trường:https://goo.gl/FaeoYK

Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles
Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!

http://intermarketanalysisblog.com