VIET CURRENCY

Những chia sẻ của Anh Việt Currency trong phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản – Phần 74.

Những chia sẻ của Anh Việt Currency trong phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản và kinh nghiệm trong giao dịch tài chính – Phần 74.

Bài học đầu tiên của thị trường là những bước đi căn bản. Những hiểu biết căn bản đó chẳng hạn như: Bạn phải hiểu tại sao có thị trường này. Nó được lập ra mới mục đích gì. Hiểu được nó ở khía cạnh này sẽ cho bạn biết ai là người chơi trong đây? Người ta vào thị trường này với mục đích gì? Mục đích và người tham dự trong thị trường nói chung sẽ là cá tính của thị trường. Mỗi thị trường tài chánh (stocks, bonds, futures, options, currency) đều có một cá tính riêng biệt. 
Sự khác biệt của cá tính thị trường xuất phát từ LOẠI người tham gia vào đó. Bạn vào đây thì ắt hẳn bạn cũng có tí kinh nghiệm bên các thị trường khác, chẳng hạn như chứng khoán (stock market), thì chắc bạn cũng thừa biết rằng những người đầu tư và vào chứng khoán là những người gì? Họ là đầu tư hay là đầu cơ (speculator, trader). Currency trading cũng thế. Bạn phải tìm hiểu chút ít về nó, để có thể trả lời cho chính bạn những giao động của thị trường. Bạn cũng biết rằng mua bán trong thị trường tài chánh, hay nói nôm na là trading, là một trò chơi cá lớn nuốt cá bé. Bạn vào cuộc chơi phải hiểu rằng cá lớn trong thị trường này là ai. Đây là bài học đầu tiên về currency market.
Đây là một thị trường mà người ta gọi là zero-sum game. Zero là con số không. Sum là tổng số của bài toán cộng. Zero-sum game có nghĩa là tổng số (sum) tiền trong thị trường không thay đổi, không nẩy nở, hay thâu rút lại. Nhưng trong thị trường lại có thắng thua. Sự thắng thua này có nghĩa là trong thị trường này mỗi khi có một người thắng thì cũng sẽ có một người thua. Đó là định nghĩa của hai chữ Zero-sum mà bạn thường nghe. Người thua đó có thể là bạn, hay cũng có thể là một Central Bank của một quốc gia nào đó. Điểm chính yếu của thị trường này là con số người thua thường nhiều hơn con số người thắng. Theo thống kê thì chỉ có 20% là thắng và 80% là thua. Vì số người thua nhiều hơn số người thắng cho nên số tiền mà người thắng lấy từ người thua là một số tiền rất lớn. Vì thế currency trading rất nổi tiếng trong giới trading, nhưng cũng chính vì thế mà nó rất là cut-throat (ác liệt). Muốn thành công trong thị trường này, bạn phải có một kỹ luật và một phương cách trade dành riêng cho chính mình.

1/ Bản chất của thị trường chứng khoán là gì?
Thị trường chứng khoán là một bộ phận phát triển của kinh tế. Nó giúp quốc gia phát triển kinh tế, bằng cách tạo công ăn việc làm cho quốc gia, qua hình thức giúp các công ty gây vốn. Nói cụ thể ra là như thế này. Chu kỳ phát triển của một công ty thường khởi đầu bởi người sáng lập bỏ vốn riêng của mình ra, hay là vay mượn bà con chút ít. 
Giai đoạn đầu đó có thể làm một công ty nhỏ nhỏ. Nếu làm ăn được và cần tiền phát triển thêm thì người đó có thể đi mượn tiền nhà banks. Nhưng nếu cần tiền phát triển thật lớn thì nhiều khi nhà banks không có đủ, hay không dám cho mượn. Tại vì sự kiện cho một thương gia mượn tiền làm ăn, nó cũng giống như là bỏ vốn vào làm ăn chung với người ta. Tùy rằng mình không có ý hùn hạp, nhưng nếu người đó làm ăn thất bại sau khi mượn tiền thì sao?
Danh từ nhà nghề gọi đó là BUSINESS RISK. Và nhà bank không muốn cái business risk này. Cho nên người thương gia đó mới quay sang thị trường chứng khoán để tìm nguồn vốn đầu tư cho công ty của mình. 
Ngược lại, các NDT khi mua cổ phần của công ty là họ CHẤP NHẬN cái rủi ro trong business của công ty đó. Họ không cho công ty mượn tiền giống như nhà bank, nhưng họ lại bỏ tiền vào công ty qua hình thức mua cổ phần. Số tiền cổ phần bán được này sẽ được đem về dùng vào việc phát triển công ty. Sự phát triển của công ty sẽ đòi hỏi việc mướn thêm người, tạo thêm công ăn việc làm cho kinh tế. Và ngược lại, chánh phủ cũng có thêm tiền thuế hàng năm. Đó là tại sao người ta thường nói, căn bản của thị trường chứng khoán là sự phát triển của kinh tế.

2/ Điểm khác nhau giữa thị trường chứng khoán và những thị trường khác: currency, bonds, option…?
Thị trường tài chánh (financial markets) nói chung gồm có 4 thị trường chính: Currency, Bonds, Stocks, Options. Ba trong 4 thị trường này là những thị trường chính của financial market. Nền kinh tế của một quốc gia được phản ảnh qua 3 cái này. Options chỉ là một thị trường phụ mà thôi. Nó không giúp nhiều trên phương diện phát triển kinh tế bằng 3 thị trường kia. Lý do cho sự hiện diện của nó là để phục vụ kỹ nghệ tài chính (financial industry) của kinh tế, chứ bản thân nó là một zero sum market. Gọi là zero sum là vì nó không tạo ra cái gì cả. Nó không phải là một nguồn nhiên liệu để làm kinh tế phát triển như 3 thị trường kia.
Currency Market:
Sự hiện diện của thị trường này xuất phát từ việc trao đổi hàng hóa của các quốc gia với nhau. (xuất nhập cảng). Lý do mà người ta cần trao đổi hàng hóa với nhau là để giảm chi phí sản xuất. Một quốc gia với nhiều tài nguyên thiên nhiên nhưng thiếu kỹ thuật sản xuất cao thì thay vì bỏ tiền ra nghiên cứu và sản xuất một chiếc xe hơi chẳng hạn, quốc gia đó có thể bán những khoán sản để mua xe, thay vì đi sản xuất. Như thế giá thành (cost) của vật đó sẽ thấp đi. Giá thành của một vật trong cuộc sống hàng ngày mà thấp thì lạm phát không có tăng. Lạm phát không tăng thì nó sẽ nâng cao lối sống của con người trong xã hội. Đó là lý do chính trong việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia với nhau trên thế giới, và cũng là căn bản của thị trường hối đoái tiền tệ.

Song song với việc trao đổi hàng hóa là sự khác biệt về giá trị của các đồng tiền giữa các quốc gia với nhau. Lý do mà có sự khác biệt này là mỗi quốc gia có một sự khác biệt về kinh tế. Có những quốc gia phát triển kinh tế mạnh hơn so với các quốc gia khác. Giá trị của tiền thường được tượng trưng qua sự phát triển của nền kinh tế của một quốc gia. Khi kinh tế phát triển thì đồng tiền sẽ tăng giá. Nó giống như là một điểm tín dụng của con người. Nếu anh đi làm có tiền nhiều, mức thu thập của anh cao thì điểm tín dụng của anh sẽ tăng. Mức thu thập của anh có thể ví như là kinh tế của một quốc gia. Kinh tế phát triển thì điểm tín dụng của quốc gia đó tăng. Tại vì tiền, tuy là một tờ giấy mà chúng ta thường bỏ trong túi, thật ra chỉ là một tờ giấy tượng trưng cho một lời hứa về giá trị của nó. Và lời hứa đó có giá trị hay không tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế của quốc gia phát hành ra nó.
Sự chênh lệch về giá trị đồng tiền làm cho GIÁ CẢ của hàng hóa xuất nhập cảng giữa các quốc gia với nhau tăng hay giảm. Sự giao động của giá cả này nhiều khi làm cho giá thành của món đồ nhập cảng không còn rẻ nữa, hay là rẻ ít hơn lúc trước. Giá thành mà tăng thì lạm phát có cơ hội phát triển. Thành ra, currency market là nơi mà người ta dùng để cân bằng giá trị của các đồng tiền trên thế giới lại với nhau. Mỗi quốc gia đều có mục tiêu kinh tế của riêng mình khi họ vào thị trường này. Thí dụ như người Nhật, họ luôn muốn đồng tiền của họ yếu hơn so với các đồng tiền khác. Tại vì kinh tế họ là kinh tế sản xuất. Sự phát triển của kinh tế là hoàn toàn dựa vào khối lượng hàng xuất cảng. Họ sản xuất hàng hóa rồi bán đi. Kinh tế phát triển của họ là số lượng hàng xuất cảng tăng. Các quốc gia với nên kinh tế xuất cảng thường không muốn đồng tiền của mình quá mạnh. Vì đồng tiền mạnh quá dể làm hàng hóa bán chậm. TQ là thí dụ thứ nhì của mô hình kinh tế này. Ngược lại, kinh tế Hoa Kỳ là một kinh tế dựa vào sự phát triển từ bên trong ra. Họ không nhờ vào hàng xuất cảng để phát triển kinh tế. Chính vì thế 70% của kinh tế Hoa Kỳ được liệt vào kỹ nghệ dịch vụ (service), và 30% được gọi là manfacturing (sản xuất). 
Họ chỉ nhờ vào chính họ. Nền kinh tế này được các kinh tế gia gọi là ORGANIC GROWTH ECONOMY. Và organic growth economy thường muốn đồng tiền của mình mạnh. Đồng tiền mạnh thì mua hàng nhập cảng rẻ. Hàng rẻ thì lạm phát thấp. Bởi vậy người ta thường chế nhạo Hoa Kỳ là “xuất cảng” lạm phát của mình đi các quốc gia khác qua sức mạnh của đồng US dollar.
Ảnh hưởng của currency market rất rộng. Nó là mặt trái của kinh tế. Sợi dây chuyền liên kết các thị trường lại với nhau là phân lời. Phân lời làm cho currency giao động, vì traders chơi trò carry trade. Currency mà giao động mạnh thì giá hàng sẽ tự động tăng vì lý do tâm lý, và cũng vì các công ty cần phải hedge (bảo vệ giá). Hedging thì phải tốn tiền. Tiền hedge sẽ được tính vào giá thành của món hàng xuất cảng.
Thành ra, giá sẽ tăng. Đó là tại sao mỗi khi đồng tiền trở nên giao động mạnh thì các Ngân Hàng Liên Bang (Central Banks) thường nhảy vào phá giá, hay giữ giá. Cốt ý của họ làm sao cho ảnh hưởng này không lan truyền qua đến kinh tế. Thế giới đã thấy bài học của currency ảnh hưởng vào kinh tế như thế nào cách đây 10 năm khi vụ Asian Crisis bắt đầu từ cái rớt của đồng Baht Thai.
Bond Market:
Đây là thị trường của dân nhà giàu, của những quốc gia rất giàu trên thế giới. Thị trường này rất lớn, ngang ngữa với currency market nếu tính theo số lượng. Bond là một mỹ danh cho NỢ. Và muốn vay nợ thì thường là bạn phải giàu thì người ta mới cho vay. “Có lúa thì mới mượn được gạo” người Việt mình thường nói thế. Thành ra, thị trường này thường được các quốc gia Âu Châu và Hoa Kỳ chơi mà thôi. Nhật là quốc gia Á Châu có đủ tầm vóc vào thị trường này. Tuy nhiên gần đây là TQ. Bond thường tạm chia ra thành hai loại, government bonds và corporate bonds. Government bonds là cổ phiếu của chánh phủ. Đây là thị trường lớn nhất của bonds. Và vua của thị trường này là Uncle Sam (Hoa Kỳ). Phần lớn các retail investors không ai đụng vào thị trường này, vì đơn vị mua bán của nó là 1MM (triệu US $) là đơn vị nhỏ nhất.
Chỉ số đo thị trường này gọi là bond yield, và bond yield là một mặt trái của phân lời thị trường (market rate). Phân lời là một thành phần quan trọng trong kinh tế. Market rate lên xuống tùy theo cảm nhận (perception) của người ta về mức độ lạm phát trong kinh tế. Nếu market rate, hay còn gọi là bond yield, lên quá cao thì thị trường chứng khoán sẽ xuống. Lý do là giá thành sẽ tăng, và công ty không có lời nhiều so với lúc giá xuống. Cho nên giá cổ phần và bond yield luôn đi ngược với nhau. Bond yield mà tăng thì giá cổ phần đi xuống, và ngược lại. Trong tất cả thị trường, stock market là thị trường nhỏ nhất. Một thị trường “đàn em” của các thị trường tài chánh khác. Nó thường bị các thị trường lớn chi phối. Cho nên muốn trade thành công trong stock market, một phần lớn trong việc phân tích thị trường nên dành để phân tich các thị trường khác. Khi hiểu được các thị trường khác rồi thì câu trả lời của stock market sẽ trở nên hiển nhiên hơn.

3/Các newbie cần chuẩn bị những gì để bước vào thị trường chứng khoán?
Có hai điểm mà người mới nên biết về thị trường tài chánh nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Đó là điểm phân biệt giữa traders và investors. Bạn tự hỏi mình là ai. Bạn muốn vào đó với tư cách nào. Thường thì người ta vào đó hy vọng mua bán kiếm lời (trader), nhưng lại không học phương cách trade cho kỹ. Cho nên có những người sau khi nhảy vào thua, rồi vì ngại bán lổ cho nên trở thành investor “bất đắt dĩ.” Họ nằm luôn trong cái stock đó vớ hy vọng là nó sẽ lên lại. Đó cũng là một lỗi lầm mà người mới sẽ khó tránh được khi họ mới bước vào đây. 

Điều thứ hai mà một người mới nên chuẩn bị là sự siêng năng học hỏi. Trading là một chuỗi ngày dài học hỏi, chứ không phải chỉ đơn giản mua và bán. Hành động mua và bán chỉ là một hành động chót trong chuỗi dây xích dài bắt đầu bởi một phân tich căn bản. Trong thị trường VN thì tôi không biết, nhưng trong thị trường Hoa Kỳ thì người mới vào nên có một khái niệm về phân lời. Khái niệm này không phải là một sự tiên đoán về hướng đi của phân lời hay là sự tác động của the Fed, nhưng là cái hiểu biết về ảnh hưởng của phân lời vào giá cả của stock.
Chẳng hạn như phân lời lên thì stock sẽ xuống ra sao, và ngược lại. Sự hiểu biết này sẽ làm cho người ta đở hoang mang khi thấy giá stock rớt vì những ảnh hưởng của các ngoại lực tác động vào TTCK. 
Còn về việc học hỏi thì tôi nói thật. Đây là một nghề cạnh tranh rất ác liệt, và là trò chơi của dân trí thức trong xã hội. Cho nên trừ khi bạn có một đam mê và một nhiệt tình thật lớn thì bạn mới nên bước vào. 
Bằng không thì bạn chỉ nên đầu tư dài hạn. Nghĩa là kiếm chú nào thật tốt, mua xong bỏ đó. VN là một quốc gia đang vươn lên trên phương diện kinh tế. Các công ty lớn của nó sẽ có nhiều cơ hội biến thành các đại công ty sau này. Nếu biết chắc hay có niềm tin vào một công ty nào đó thì nên ôm nó luôn. Đừng vì một số tiền lời nho nhỏ mà trade nó. Phần lớn các bạn đang trade bên TTCKVN vẫn còn học trade, và TTCKVN đang lên khá mạnh. Thành ra, trade nó rất dể make $. Nhưng trong một thị trường như thế, không trade mà chỉ mua thôi thì còn make $ nhiều hơn nữa.

Em co to mo doc tai lieu options mot vai ngay thi thay la pricing policy cua options kha phuc tap dua tren volatility va co kha nhieu kieu model nua. Vay anh vietcurrency co the cho biet:
1. tat ca cac noi cho trade options thong nhat kieu pricing policy nao?
Option pricing models bắt đầu từ Black & Scholes mà ra. Đó chỉ là một options model LÝ THUYẾT, cũng giống như là lý thuyết chế xe hơi. Trước hết anh phải có máy, rồi có sườn xe, bánh xe, v..v. Lý thuyết trên giấy tờ thì lúc nào cũng dể hiểu, nhưng khi đem ra thực hành thì không chính xác lắm. Tùy theo asset class nào được áp dụng mà Black & Scholes đúng hoặc sai ít nhiều. Nhưng người ta dựa vào model này để sinh ra nhiều model khác, để áp dụng cho từ trường hợp khác nhau.
Thí dụ, options pricing model của stocks thì không đem áp dụng cho currency nguyên si được, mà phải cần sửa lại rất nhiều. Lý do là stock và currency là hai assets khác nhau rất xa. Stocks có dividends; currency thì không. Interest rates (phân lời) không phải là một lý do cực kỳ quan trọng trong stock pricing so với dividends. Nhưng ngược lại, interest rates là TẤT CẢ trong currency market. Một nhúc nhích nhỏ của nó sẽ làm mọi phân tích lệch lạc tất cả. Thành ra, người ta mới sinh là cái currency options pricing model riêng để tính cho currency. Trong tất cả các options pricing models, currency là cái khó nhất. Khó là vì phải price cái INTEREST RATE VOLATILITY vào.

2. lam sao ma ho xac dinh duoc muc do volatility de tinh duoc price? vi du trong cong thuc black and scholes pricing model thi standard deviation (volatility) duoc tinh the nao?
Volatility xuất thân từ cái gọi là PRICING DISTRIBUTION, và pricing distribution này trên lý thuyết có một cái hình của một cái chuông mà statisticians gọi là the Bell curve. Dựa vào bell curve, người ta kiếm ra cái MEAN của giá. Từ Mean anh kiếm ra VARIANCE của giá. Square root cái Variance đó sẽ thành standard of deviation. Đó là lớp học cơ bản nhất của Volatility. Nếu bell curve có hình của một “fat tails” thì mực độ volatilty sẽ tăng so với cái không có. Mỗi stock có một cái bell curve riêng biệt, và unique cho nó. Bởi vậy tôi có nói rằng volatilty của stocks giống như chỉ tay của chúng ta. Tại vì mỗi cái mỗi khác. Đem volatility của stock bỏ vào Black & Scholes sẽ đưa ra cái giá LÝ THUYẾT của options pricing. Đến mức này, người ta gọi đó là THEORETICAL OPTIONS VALUES. Trên thị trường, anh có một volatilty khác, gọi là IMPLIED VOLATILITY. Giá options được trao đổi mua bán thật sự ngoài thị trường DỰA VÀO cái Implied volatility này, chứ không phải là cái theoretical. So sánh sự khác biệt của hai cái này, options traders mới định được cái gì rẻ và cái gì mắc.

3. anh co chien thuat hedge bang options thi chia se luon.

 Options có 28 thế đánh căn bản, xuất phát từ 8 thế đánh chính mà ra. Anh muốn biết tuyệt chiêu nào?
Vài lời chia sẽ…
Bản chất của Forex là gì ?
Forex là một thị trường cũng như bao thị trường tài chánh khác mà thôi. Tuy nhiên, bản chất của nó không phải là đầu tư, mà là hedge. Có nghĩa là người ta sinh ra nó để nó giúp các đại công ty, các ngân hàng bảo vệ tài sản, sản phẩm của họ qua hình thức tài chính.
Thị trường nào cũng có hai loại người chính, hedgers hay có thể là investors, và speculators. Hedgers là người tạo nên lực nhu cầu của thị trường. Còn speculators thì tạo nên liquidity cho thị trường. 
Forex họat động 24/24 ,vậy tai sao mỗi ngày lại có giờ mở cửa của các thị trường.

Giờ mở cửa các thị trường là giờ bản xứ. Còn forex market thì lúc nào cũng mở cửa. Thị trường bản xứ, chẳng hạn như thị trường Hoa Kỳ, có thể đóng. Nhưng currency market vẫn có thể trade tại một thị trường khác, ở một giá gần như là tương tự giá của thị trường vừa đóng.
Có phải lúc đó các Big trader bắt đầu họat động ?
Không. Traders không hoạt động theo giờ. Họ họat động theo news và theo tầm quan trọng của những sự việc đang xảy ra vòng quanh thế giới đã và đang ảnh hưởng vào giá thị trường.
Các US Trader giữ vai trò như thế nào đ/v Currency market ? Giờ họat động của họ ?

Traders là một bộ phận chung của thị trường, chứ không phải đứng ngoài thị trường. Họ không có nhiệm vụ gì hết. Họ vào cuộc chơi với một ý nghĩ duy nhất. Đó là kiếm tiền, và kiếm cho thật nhiều tiền. Đơn giản vậy thôi. Tuy nhiên, với một túi tiền lớn gấp trăm ngàn lần số tiền của các chú retail, professional traders cung cấp cho thị trường một điều quan trọng nhất của tất cả market. Đó là liquidity.
Những yếu tố nào cần có để trở thành successful trader?
Discipline ( Kỷ luật). Một đoàn quân thiện chiến không phải nhờ người lính giỏi, mà nhờ người lính kỷ luật. Trong các quân binh chủng của thế giới, ai cũng biết Nhảy Dù là thiện chiến nhất. Họ thiện chiến vì họ là binh chủng kỷ luật nhất của quân đội. Traders cũng thế. Thương trường hôm nay cũng giống chiến trường năm xưa. Ra trận mà thiểu kỷ luật bản thân. Trade lung tung. Trade theo hứng, trade vì tham. Trade vì tự cao, tự ái thì cái chết trong thương trường sẽ không xa lắm.
Các gia đọan mà Protrader thường trải qua?
Đau thương và nhiều đau thương. Nhiều đến nổi mỗi lời nói khi chia sẽ kinh nghiệm với người khác là một bài học trong quá khứ. Nhìn vào chart, thấy formation hiện ra trước mặt, hiểu nó. Nhưng song song với cái hiểu đó là bài học đau thương của dĩ vảng. Không nhớ cũng không đươc.
Nên phối hợp giữa TA và FA như thế nào? Cái nào giữ vai trò chủ đạo?
TA là cho trade thuần túy. Đó là một nghệ thuật mua bán qua phương cách đo lực cung cầu thị trường. FA là một môn học chính thống, được đào tạo bởi những đại học danh tiếng, và có bằng cấp hẳn hòi.
Cái nào giữ vai trò chủ đạo? Bạn tự định nghĩa mình là gì? Trader hay investor. Nếu là traders thì chỉ nên tìm hiểu FA một mức cần thiết nào đó thôi. Biết đủ để hiểu các tin tức và phản ứng của thị trường là đủ.
Đối với TA nên sử dụng những công cụ nào?
Mỗi công cụ có một cách xài khác nhau. Có nhược điểm và ưu điểm khác nhau. Không thể nói cái nào hơn cái nào, tuy rằng có một số công cụ thường được người ta xài nhiều hơn những cái khác. Nhưng đó không có nghĩa là công cụ đó là tuyệt đối.
Cách xác định Entry/Exit point?

Muốn biết xài entry hay exit cho đúng thì phải biết coi formation. Nắm formation cho chính xác mới nói đến entry và exit. Entry và exit là một nghệ thuật tối quan trọng trong trading. Nó phân biệt giữa một người biết trade và một tay nhà nghề. Vì kỷ thuật entry/exit này sẽ làm tiền lời tăng hay giảm gần 50% nhiều hơn, nếu biết chọn đúng hai điểm trên.
Cách đặt Stop loss/Target?
Tùy cá nhân và tùy market nữa. Không thể nói suông được. Có người thì chọn đại vài chục pips và chấp nhận thua ở điểm đó. Có người thì theo dỏi market và quyết định cut loss khi họ không thấy hy vọng nữa. Có người vừa nhảy vô, thấy không êm là chạy liền không do dự. Tôi thuộc thành phần chót. Thấy không êm là dông mất. Trade kiểu này nhiều khi cũng bực mình vì mình bị market nó rỉa hoài, nhưng theo tôi thì kiểu này nó bảo vệ vốn lâu dài. Và câu hỏi “thế nào là không êm”, xin trả lời là trước khi nhảy vô thì mình phải có cái nhìn xa hơn hiện tại chút. Nếu mình daytrade mà vừa nhảy vào, sau 5, 10 phút mà thấy không ổn là chuẩn bị lui quân là vừa. Ngồi đó tiếc của Trời một hồi là buồn lắm . Ngồi càng lâu thì “nổi buồn càng dâng cao”
Nên phối hợp giữa các Timeframe như thế nào?
Mỗi cặp tiền nó có một bản chất riêng. Không thể xài một time frame để đo hết các cặp. Chẳng hạn đồng Euro thường rất dể đọc chart với 5-minute chart. Nhưng nếu đem cái timeframe đó qua đồng Pound thì sẽ sai signal. Lý do là đồng Pound giao động nhiều hơn đồng Euro, cho nên nó cần một longer timeframe để weed out những market noise.
Money management :
Mỗi một position nên đặt bao nhiêu % vốn? Để có thể kiếm sống được với Forex thì cần số vốn tối thiểu là bao nhiêu ?
Mỗi Cái này thì tùy cá nhân. Có một position nên đặt bao nhiêu % vốn? người 5, 10%. Có người thì chơi xã láng luôn. Có người thì bỏ vào ít lúc đầu, nhưng thấy market bắt đầu chạy theo ý mình muốn thì họ “double down” luôn. Nói chung là cái này tùy theo bản tánh của người, và thị trường mình trade. Cá nhân tôi thì lúc đầu bỏ ít. Nhưng khi market đã confirm hướng đi thì tấp vào tối đa. George Soros—thần tượng của currency trader— đã từng nói một câu rất nổi tiếng. Đó là: WHEN YOU’RE RIGHT, YOU CAN’T HAVE ENOUGH. Đại ý của câu đó là khi bạn đoán đúng hướng đi rùi, bỏ vào bao nhiêu cũng vẫn chưa thấy đủ. Đây là cung cách của một trader nhà nghề. Họ biết tiến thoái nhịp nhành với thị trường. Họ không như mấy ông thầy giáo lẩm cẩm, cứng ngắc. Chỉ nhất quyết với một con số nào đó thôi. Trading rất là flexible ( tạm dịch là co giản). Khi biết mình thắng thì phải tấp vào tối đa. Cơ hội không đến lần thứ hai. Cho nên khi cờ tới tay thì phải phất. Phải “clean out” đối thủ của mình cho sạch sẽ. Để lấy đó làm vốn. Lở mai mốt mình có bị clean lại thì còn vốn mà phục thù. Đối với tôi thương trường là chiến trường. Traders phải biết tiến thoái nhip nhàng với thị trường và co giản theo nó. Đó là cái gọi là money management của tôi. Bạn hỏi 10 người khác thì sẽ có 10 câu hỏi khác nhau.
Muốn kiếm tiền sống trong forex trading thì có người nói là 50K trở lên. Theo tôi thì cái này tùy mổi người và hoàn cảnh xã hội. Ở Mỹ này thì 50K để trade và kiếm sống thì khó lắm, vì chi phí hàng tháng rất nhiều. Ở VN thì có thể được.

Quan điểm của các anh như thế vào về các chiến thuật mà các newbie thường sử dụng như:
Đón gió : trước lúc có NEWS khỏang 5phút đặt 2 cái Stop order ngược chiều nhau cách điểm hiện tại một số pips nhất định Cái này thì không biết. Ai biết trả lời dùm.
Chịu đựng : đặt lệnh chỉ đặt Target không đặt Stop loss .

Cái này là trò chơi dại của mấy chú rookies. Hihihihi account bị clean out vài lần là nhớ hà. Khỏi cần dạy.
Hedge Funds
Đây là một hình thức đầu tư giống mutual fund nhưng nghiên về trading, và thường là do một ex-trader lập ra. Dân đầu từ vào các hedge fund thường là dân nhà giàu. Theo luật của 1996 thì số tiền tối thiểu để bỏ vô là 1 triệu US. Bây giờ thì nghe nói là còn 100K thui.
Đan lưới : tại mỗi thời điểm Long và Short đồng thời và cứ liên tục như vậy.
Tôi không biết mấy cái này. Tôi chỉ net long or net short market thui. Đối với tôi making $ là phải make directional bets. Mấy chiến thuật này giống như là scalping quá. Tôi không rỏ.
Những chiến thuật mà các anh thường sử dụng (nếu thấy tiện )
Kiên nhẫn và kiên nhẫn ngồi đợi cho đến khi market có một signal mà mình không thể bỏ được thì mới nhảy vào. Vào rùi mà thấy đúng thì tấp tối đa vào. Xong rùi thì chạy cho nhanh. Đủ no là dông. Không tiếc rẻ gì nữa cho dù nó có lên cao hơn sau này nhiều.
Traders có câu: You never go broke taking profits. Tạm dịch là bạn không bao giờ sạt nghiệp khi có lời. Lời ít hay lời nhiều điều do chính mình mà thôi. Trên thị trường có hai lực mà người trader luôn tránh: FEAR & GREED. Fear là sợ. Greed là tham. Cả hai cái này đều dẫn đến cửa tử. Khi thua, người ta sẽ đâm ra sợ vô cớ. Khi thắng người ta sẽ ngạo mạn và chơi liều. Cái sai thứ nhất (fear) làm cho người ta chậm chạp khi cơ hội tới tay mà không dám chụp vì sợ thua nữa. Thành ra, không bao giờ gở lại cái mình đã thua.
Còn Greed thì vì đã thắng lớn, hay thắng nhiều nên con người đâm ra tự cao. Trong lịch sử của financial trading có hàng hà sa số xác chết của những traders loại này. Thành danh cũng nhanh và chết còn nhanh hơn. Chết loại này thường là một đi không trở lại. Vĩnh viễn ra khỏi cuộc chơi. Cho nên người biết trade, loại người đã nắm hết những basic knowledge, thường luôn xem xét lại bản thân mình sau mỗi cuộc chơi. Đừng quá buồn khi thua, mà cũng đừng quá mừng khi thắng. YOU ARE AS GOOD AS YOUR LAST TRADE. Có nghĩa là cái trade sắp tới là một trò chơi mới, với một sát xuất thắng thua bằng nhau. Khoan hãy mừng vội, nếu bạn may mắn thắng trong kỳ trade vừa qua.

Các vấn đề về Price:
Price được hình thành như thế nào?
Ai quản lý Price? Có phải có một trung tâm dữ liệu về Price để sử dụng chung trong Currency market?
Liệu có ai có thể thao túng Price không?
Các Brokers và Market makers có thao túng Price được ko ?
Mối tương quan giữa Quantity và pips?
Price được cập nhật như thế nào? Liên tục hay là từng thời điểm.
Price được thành hình qua một phương thức gọi là price discovery. Có nghĩa là đấu giá. Người nào muốn bán giá nào thì post lên, nếu đúng giá thì sẽ có người mua. Và cứ lần lần như thế mà giá được tạo thành. Đây là căn bản của các thị trường tài chánh thế giới khi họ pricing một vật gì. Vì phương pháp này cho nên giá thật ra chỉ là một khái niệm, không có gì là thật hay chính xác cho lắm. Cũng chính vì thế giá luôn thay đổi vì khái niệm của giá luôn thay đổi tùy theo cái nhìn của mỗi trader trong cuộc chơi, và tùy theo những tin tức kinh tế, và diễn biến của chính trị hằng ngày trên thế giới.
Ý bạn muốn nói là data hay quote đó huh? Cái đó thì khi giá được thành hình qua phương thức vừa kể trên thì nó được dissiminate (tạm dịch là phân phối) qua các data vendors khắp thế giới.
Thị trường nào cũng có thể bị thao túng được cả, bằng cách này hay bằng các khác mà thôi. Tuy nhiên, trong currency market thì hơi khó hơn các thị trường khác vì cái size của nó. Nhưng nhiều khi người ta không cần phải thao túng của nó qua giá bằng cách “lấy thịt đè người” nhưng người ta có thể tung tin đồn thất thiệt về một chuyện gì đó để đổi chiều của thị trường trong giai đoạn ngắn hạn nào đó. Nhưng muốn làm thế cũng không hẳn là dể. Nói chung thì cho với các loại cóc nhái như chúng ta trong thị trường này thì dầu có thao túng hay không thì cũng không ảnh hưởng gì đến chúng ta bao nhiêu. Chúng ta mà có thua trong thị trường này là lỗi do chính chúng ta tạo ra nhiều hơn là do người khác thao túng market.

Không
Không. Pips là đơn vị nhỏ nhất để đo mực độ lên xuống của thị trường. Quantity không dính líu gì đến sự thành hình của pip cả. Quantity chỉ thay đổi hướng đi của thị trường thôi. Pips chỉ thay đổi khi GIÁ TRỊ của lot thay đổi. Giá trị của lot không phải là quantity mà là LOT VALUE. Giá trị của lot cho mổi đồng tiền đều khác nhau ít nhiều. Từ giá trị của lot, người ta mới tính ra pip. Còn danh từ QUANTITY mà anh xài phía trên có hàm ý là lực mua bán của thị trường. Thí dụ như là selling quantity, or buying quantity. Gần như là liên tục. Đây là một continuous market mà. Update từng thời điểm ai mà chơi.
Mối tương quan giữa các thị trường : Bonds, Forex,Futures,Stocks. Xem xét như thế nào?
Công cụ nào có thể giúp mình biết được mối tương quan này?
Có nên trade nhiều cặp tiền tệ?Nếu có thì nên trade nhữnh cặp nào? Tại sao?
Kinh tế và phân lời. Phân lời là sợi dây nối liên kết tất cả thị trường tài chánh.

Có phải chart của tất cả các cặp tiền tệ thì có tính chất giống nhau?
Không. Chart của mỗi đồng currency tuy có giống nhau qua một tính chất là trend, vì trend là điểm khá đặc thù của currency. Nhưng không phải chart của tất cả đồng tiền đều giống nhau. Lý do là mỗi một đồng tiền đều có mức giao động riêng, gọi là volatility. Volatility của mỗi đồng tiền giống như là dấu tay của chúng ta. Mỗi người đều có một dấu tay khác nhau. Volatility của mỗi đồng tiền cũng thế. Dựa vào điểm này mà traders có thể có những cách trade cho mỗi đồng tiền mỗi cách khác nhau.

Các vấn đề về Brokers
Nên chọn Broker như thế nào cho an tòan? Các mánh khóe mà Brokers thường sử dụng?
An toàn tùy theo định nghĩa của người chơi. Ở những nơi khác thì sao tôi không biết, nhưng ở Mỹ thì luật pháp rất chặc chẻ nên vấn đề gạt gẩm khá ít. Hơn nữa, lúc lựa broker thì nên chọn các hãng lớn, có uy tín chút chút. Tuy nhiên, nói chung thì điều quan trọng nhất khi chọn một broker là tiền của khách gởi vào phải được bảo đảm tối đa. Khi chọn broker thì cần phải hỏi họ một điều quan trọng nhất. Đó là tiền của khách và của hãng được giữ như thế nào? NÓ PHẢI ĐƯỢC NẰM TRONG HAI LOẠI ACCOUNT RỎ RỆT. GỌI LÀ SEGREGATION FUND. Có nghĩa là công ty phải có 2 accounts nằm tại clearing firms. Một account là tiền của công ty. Account kia là tiền của khách. Làm như thế lở mai sau mà công ty có sập tiệm thì tiền khách không bị các creditors của công ty làm khó dể. Xin coi trường hợp của REFCO thì rỏ.

Các mánh khóe mà Brokers thường sử dụng?
Mánh về trading thì tôi không biết. Nhưng về marketing thì có khá nhiều. Điều này thiết nghĩ anh em trong đây có thể chia sẽ thêm. Cá nhân tôi thì chưa có bị broker nào gạt cả.

Market makers khác Brokers như thế nào ?
Câu hỏi này liên quan đến cơ cấu của thị trường tài chánh nói chung, chứ không hẳn của currency market mà thôi. Currency market mới được thành lập (currency trading) vào khoảng năm 1973 khi TT Nixon bải bỏ hiệp ước Brettonwood. Cùng thời điểm đó là giai đoạn bắt đầu của OTC market tại Hoa Kỳ. Cho nên currency market xài OTC model làm phương pháp mua bán currency.
Trong phương thức điều hành một thị trường tài chánh qua hình thức đấu giá, người ta có hai models. Model thứ nhất gọi là SPECIALIST. Đây là phương thức mà thị trường NYSE đã xài gần 100 năm qua. Phương thức thứ nhì là MARKET MAKER của Nasdaq.
Market making là một cách tạo nên market trong đồng tiền nào đó, chẳng hạn như đồng Euro, hay trong một stock nào. Nhiệm vụ của người market maker là KIẾM NGƯỜI MUA VÀ NGƯỜI BÁN để hai người này có thể trao đổi hàng hóa với nhau theo đúng danh từ của chữ MARKET. Họ là người tạo ra thị trường bằng cách MATCH người mua và người bán lại với nhau. Đó là định nghĩa và nhiệm vụ của họ. Họ không có trách nhiệm về giá cả thị trường. Giá cả là do người mua và bán quyết định. Nếu anh bạn là một cậu học trò, và câu hỏi này liên quan đến bài tập trong trường thì đây là câu trả lời chính xác về định nghĩa của một market maker là gì.
Ngược lại, trong thực tế khi chúng ta trade thì market maker có thể làm một trong hai điều sau đây. Họ có thể EXECUTE cái order trên hai phương diện: AGENCY & PRINCIPAL. Nếu họ execute cái order trên phương diện agency thì có nghĩa là họ chỉ match người mua và người bán lại với nhau. Họ không có thắng thua gì trong cái order đó. Có nghĩa là họ không có dự phần vào công việc trading. Lợi nhuận của họ trong cái trade này là điểm spread của giá, thường là 3 đến 4 pips. Còn nếu họ execute cái order
trên phương diện của một PRINCIPAL thì cái đó có nghĩa là họ chấp nhận mua bán với khách. BUY order mà vào thì họ sẽ chấp nhận bán ra để thỏa mãn cái order đó. SELL order mà vào thì họ sẽ mua vô. Nói các khác, họ là chấp nhận take the opposite side of the trade. Không phải brokerage house (danh từ nhà nghề khi nói đến các hãng broker) nào cũng làm được như thế. Nếu hãng broker chỉ có thể execute order của khách qua hình thức AGENCY thì họ chỉ là broker theo đúng nghĩa danh từ. Còn hãng nào mà chơi luôn hai thứ. Đó gọi là BROKER & DEALER. Đây là dân thứ dữ, là đại gia của nghề brokering. Theo tôi biết thì hầu hết các broker mà chúng ta (retail clients) xài đều là broker thui. Còn các đại công ty như Citibank, Bank of America thì mới là Broker.

Dealer.
Điều chót nữa về market maker là trong cái tờ giấy thông báo mua bán của mỗi order, nó có một hàng số chừng 21 con. 21 con số đó tượng trưng cho ngày giờ, địa điểm, code của market maker, và vị thế của order được execute. Dĩ nhiên tất cả đều là code, chúng ta đọc vào sẽ chả hiểu gì cả. Nhưng mà nếu có chuyện gì cần đến pháp luật thì tờ giấy đó đều ghi đủ cả. Với internet hiện nay thì không còn ai nhận tờ giấy đó nữa vì gởi ra tốn tiền tem và nhiều chi phí khác, nhưng tất cả các broker đều phải có một copy lưu trữ khi cần.
Các câu trả lời được thực hiện bởi Vietcurrency.
Vài lời chia sẽ…Mong các bạn khác bổ túc thêm.

Viet Currency

Source: Inter-Market Analysis Blog

—————————————————————-
Các bài viết phân tích chi tiết và tín hiệu giao dịch được update dành riêng cho khách hàng và học viên tại đây:
– Dịch vụ tư vấn phân tích: https://goo.gl/pHMMEb
– Khóa học online: https://goo.gl/3aEqyv
– Các bài phân tích cũ theo phương pháp phân tích liên thị trường:https://goo.gl/FaeoYK

Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles
Ngọc Hải M.Pearlie
Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
http://intermarketanalysisblog.com