ECONOMICS INDICATOR INTER-MARKET

Giới thiệu về các chỉ số trong báo cáo việc làm và Cách thức phân tích các con số trong báo cáo việc làm Mỹ – Ebook The Secret of Economic Indicator

THE TABLES: CLUES ON WHATS AHEAD FOR THE ECONOMY

Hãy nhìn vào những thông tin trong báo cáo chính thức mà nó có thể cung cấp những cái nhìn thật sâu sắc vào điều kiện thị trường lao động hiện nay và những gì họ nói về xu hướng của nền kinh tế trong tương lai.

Bảng A: Các chỉ số chính của các hoạt động trên thị trường lao động.

Trang này tóm tắt tình hình việc làm trong tháng, và nó cũng có giá trị tốt và chúng ta sẽ phải dành một chút thời gian để làm quen với cách trình bày của báo cáo. Nửa đầu là dữ liệu hộ gia đình, và nửa cuối là các cuộc khảo sát doanh nghiệp.bang luong phi nong nghiep 01

  1. Phần này là thống kê các đặc tính mới nhất về quy mô lực lượng lao động và con số mà trong này không phải là những người đã có việc làm. Cột bên phải là sự thay đổi trong các số liệu từ một tháng kế tiếp. Tất cả các số liệu trong phần này, đáng quan tâm nhất là xem những thay đổi trong việc làm hộ gia đình. Nó có thể là một chỉ số nhạy cảm nhất của một nền kinh tế tăng trưởng vì việc làm hộ gia đình cũng được nắm bắt thông qua các doanh nghiệp tư nhân và những người mà họ thuê, một vài khảo sát về bảng lương không được thực hiện. Cả những con số của những doanh nghiệp tư nhân và những người làm việc cho các công ty nhỏ mới thành lập có xu hướng tăng với tốc độ nhanh hơn so với phần còn lại của thị trường lao động trong giai đoạn đầu của sự phục hồi trong nền kinh tế. Vì vậy, cuộc suy thoái gần như đã đến giai đoạn kết thúc của nó, giữ lại báo cáo việc làm hộ gia đình, nó có thể được quan tâm nhiều hơn số liệu về bảng lương.
  2. Ở đây bạn sẽ tìm thấy tỉ lệ thất nghiệp hàng tháng mới nhất cho tất cả công nhân, cùng với sự phân chia về nhân khẩu học của tổng thể đó. Nhiều nhà kinh tế thường đề cập đến tỉ lệ thất nghiệp là một chỉ số chậm trễ, có nghĩa là nó phản ứng chậm với những thay đổi trong nền kinh tế. Kết quả là, có rất ít người có thể tiên đoán được tương lai từ những con số đó. Tuy nhiên, điều đó cũng không phải hoàn toàn là như vậy. Tỉ lệ thất nghiệp, chính số liệu đó không được sử dụng trong việc dự báo sự phục hồi của nền kinh tế.

Thất nghiệp có thể vẫn còn cao có thể là khoảng 2 năm sau khi một chu kỳ suy thoái kết thúc bởi vì hầu hết các nhà tuyển dụng không muốn thêm vào bảng lương của họ trừ khi họ được thuyết phục rằng nền kinh tế vẫn đang thực sự trên con đường tăng trưởng vững chắc. Một lý do khác cho sự phục hồi chậm chạp trong vấn đề tạo ra việc làm là các công ty đã có những bước tiến lớn và hiệu quả hơn trong việc điều hành. Nhờ việc sử dụng rộng rãi các thiết bị máy tính, quản lý hàng tồn kho tốt hơn, và các hoạt động sản xuất ở nước ngoài tốt hơn, các ông chủ có thể dễ dàng tăng sản lượng mà không cần thuê lại lao động Mỹ trong một số công việc họ đã từng làm.

Nơi mà tỉ lệ thất nghiệp có thể xem như là một chỉ số hàng đầu là do cảnh báo về một cuộc suy thoái sắp xảy ra trong hoạt động kinh tế. Kể từ đầu những năm 1980, sự gia tăng sử dụng các phần mềm phức tạp và mạng điện tử đã cho phép các doanh nghiệp đáp ứng nhanh hơn nhiều so với quá khứ để thay đổi trong nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ.

Ngay sau khi giám đốc điều hành phảt hiện dấu hiệu không chắc chắn trong hoạt động kinh doanh, họ hành động nhanh hơn để kiểm soát chi phí. Bởi vì chi phí lao động là lớn nhất của các công ty, sa thải lao động đang xảy ra hàng tháng trước khi sự khởi đầu của một cuộc suy thoái. Trong cuộc suy thoái kinh tế năm 1990-1991, tỉ lệ thất nghiệp bắt đầu tăng cao khoảng 3 tháng trước khi hoạt động kinh doanh bị đình trệ. Và khi cuộc suy thoái năm 2001 bắt đầu, tỉ lệ thất nghiệp chạm đáy 1 năm trước đó. Như vậy, chỉ số này có khả năng hoạt động như một hệ thống cảnh báo sớm rằng nền kinh tế có thể gặp rắc rối.

Một điểm cuối cùng về các tỷ lệ trung bình trong thất nghiệp, khoảng 150.000 người mới trong độ tuổi lao động và lực lượng lao động hàng tháng chỉ đơn giản là sự gia tăng dân số quốc gia và từ sinh viên tốt nghiệp. Điều này có nghĩa rằng nền kinh tế cần phải tạo ra nhiều công việc làm bình quân mỗi tháng để có thể giữ tỉ lệ thất nghiệp không tăng lên. Hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý rằng để tạo ra nhiều việc làm trong mỗi tháng, nền kinh tế phải trải qua trong khoảng thời gian tăng trưởng bằng một tỉ lệ ít nhất 3-4% hàng năm. Tăng trưởng nên giảm xuống dưới tốc độ đó, ít việc làm được tạo ra, và tỉ lệ thất nghiệp sẽ còn tăng cao hơn.

  1. Bạn muốn biết thống kê kinh tế tạo ra sự phần khích nhất trong thị trường chứng khoán và trái phiếu mỗi tháng? Nó là sự thay đổi hàng tháng trong việc làm phi nông nghiệp từ các cơ sở dữ liệu. Tất cả các số liệu trong phần này được bắt nguồn từ hồ sơ trả lương và đại diện cho các bằng chứng mạnh mẽ về sức khỏe của nền kinh tế trong việc tạo ra việc làm. Nhiều nhà phân tích đang đánh giá sức mạnh của nền kinh tế trên cơ sở bao nhiêu vị trí mới đã được tạo ra. Tuy nhiên, người ta phải cẩn thận trước khi kết luận vội. Sự thay đổi trong số lượng việc làm phi nông nghiệp tạo ra bao gồm các vị trí trong chính phủ. Để tìm hiểu những gì đang diễn ra trong lĩnh vực kinh doanh doanh nghiệp tư nhân, người ta phải trừ sự đóng góp của chính phủ từ tổng số bảng lương phi nông nghiệp. Dưới đây là một minh chứng cho lý do tại sao nó quan trọng.

Hãy nói rằng các cuộc khảo sát thành lập cho thấy một số lượng việc làm phi nông nghiệp giảm ròng 50000 lao động trong một tháng. Một dấu hiệu đáng lo ngại cho nển kinh tế?

Không cần thiết. Có thể là cộng đồng doanh nghiệp có thể tạo ra đủ 30000 việc làm trong tháng, nhưng điều đó đã được bù đắp khi chính phủ sa thải 80000 ví trí trong cùng một khoảng thời gian (30000-80000=-50000). Trong ví dụ này, cộng đồng daonh nghiệp đủ khỏe mạnh để tạo ra thêm 30000 việc làm, nhưng điều đó đã bị làm lu mờ bởi việc cắt giảm việc làm của chính phủ.

Vì vậy, điều quan trọng là phải giữ một cái nhìn về liên bang, tiểu bang và chính quyền địa phương ảnh hưởng đến việc làm phi nông nghiệp nói chung.

  1. Sự khác biệt trong giờ làm việc là một chỉ báo trước về hoạt động kinh tế trong tương lai. Nếu bạn muốn tạo một bản xem trước của hướng đi của nền kinh tế, sự thay đổi này trong giờ làm việc trung bình trong một tuần. Nó tương quan rất chặt chẽ với tổng sản lượng GDP và cũng như những thay đổi trong thu nhập cá nhân. Nếu số giờ làm việc tăng lên trong 3 tháng liên tục, đó là một dấu hiệu mạnh mẽ rằng doanh nghiệp sẽ sớm tăng cường thuê mướn nhân công. Nên số lượng giờ làm việc cho thấy một sự suy giảm kéo dài, hy vọng sa thải nhân công và cắt giảm chi tiêu trong kinh doanh và tiêu dùng.Số giờ làm việc trong sản xuất là đặc biệt nhạy cảm với bất kỳ sự thay đổi trong nhu cầu của người dân đối với hàng hóa. Khi giờ sản xuất trung bình hàng tuần giảm xuống dưới 41, nó thường là một dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang gặp khó khăn, trong khi 41,5 giờ trở lên cho thấy hoạt động kinh doanh đang chuyển sang giai đoạn ổn định hơn. Trong lịch sử gần đây, giờ làm việc trung bình trong sản xuất đã thay đổi từ một mức độ thấp 40,1 tới một mức mạnh mẽ hơn là 41,9 giờ.

Bên trong các báo cáo việc làm, bạn cũng sẽ thấy Bảng B-2 (không hiển thị), trong đó việc phá vỡ giờ làm việc cho hơn 30 nhóm ngành công nghiệp. Thông tin này có thể khiến cho các nhà đầu tư mơ hồ về sức khỏe của các thành phần cụ thể trong nền kinh tế. Ví dụ, nếu giờ trung bình hàng tuần trong những ngành công nghiệp xây dựng giảm, nó có thể dẫn đến sự suy giảm trong tiến độ xây dựng, gây ra tình trạng thất nghiệp cao hơn ở những công nhân xây dựng, và làm tổn thương các công ty khác mà tình hình kinh doanh của họ phụ thuộc vào việc xây dựng nhà ở.

Giờ làm thêm là một chỉ số khá tuyệt vời của việc làm và xu hướng GDP trong tương lai. Trong thời gian kinh tế bất ổn, thay vì thuê nhân công mới, các công ty có thể yêu cầu nhân viên hiện có làm thêm giờ. Nếu làm thêm giờ tăng lên và tốc độ đó được duy trì trong ít nhất 3 tháng, các doanh nghiệp sẽ phải chịu áp lực để xem xét việc thuê lại một lần nữa. Làm thêm giờ có thể khá tốn kém cho một công ty, và các công ty sẽ phải đối mặt với nó, và cũng có những thời điểm công nhân của bạn sẽ có những vấn đề về sức khỏe và làm giảm chất lượng công việc. Như vậy tăng giờ làm thêm là một bước đệm trong việc thuê thêm nhân công mới. Tăng giờ làm việc hàng tuần thường dao động trong một phạm vi hẹp giữa 4 và 5 giờ. Nếu con số giao động ở dưới 4h trong một tuần và kéo dài trong vài tháng thì khả năng sa thải nhân viên sẽ cao lên. Nếu như số giờ làm việc nhất quán trên 4,5 giờ thì sẽ báo trước cho việc phải thuê nhân công mới.

  1. Ở dưới cùng của bảng A là thu nhập trung bình hàng giờ và hàng tuần cho các tháng. Giá trị của những con số này nên được rõ ràng. Nếu thu nhập của người lao động tăng lên, nó là tín hiệu tốt cho chi tiêu trong tương lai. Thông tin phức tạp hơn về thu nhập theo giờ và hàng tuần có thể được tìm thấy trong bảng B-3 (không hiển thị), nhìn vào tiền lương của các ngành công nghiệp được lựa chọn. Thu nhập tăng cao có thể tiết lộ những ngành đang làm tốt và ở đâu đang có sự khan hiếm ngày càng tăng của công nhân giàu kinh nghiệm.

Bảng A-5: Employed Persons by Class of Worker and Part-Time Status

  1. Những số liệu về việc làm bán thời gian cho một câu chuyện thú vị mà thường bỏ qua bởi các nhà phân tích. Khi thật khó để có được công việc toàn thời gian thích hợp, nhiều người không có sự lựa chọn nhưng để chấp nhận việc làm thêm bán thời gian. Bảng này cho thấy số lượng người trong các nền kinh tế phi nông nghiệp đã chấp nhận làm việc bán thời gian vì lý do kinh tế, có nghĩa là họ không thể xác định vị trí thích hợp cho việc làm toàn thời gian. Một xu hướng tăng ổn định trong những con số cho thấy nền kinh tế vẫn còn yếu và không tạo ra đủ thời gian để đáp ứng cho những người tìm việc. Nên buộc số lượng công nhân bán thời gian suy giảm, nó có nghĩa là đủ việc làm toàn thời gian đang sẵn có để khuyến khích người ta rời khỏi công việc bán thời gian.

Bảng A-9: Unemployed Persons by Duration of Unemployment

  1. Một thước đo tốt của các hoạt động kinh tế có thể tìm thấy trong bảng A-9, trong đó cho thấy không chỉ là quy mô số lượng thất nghiệp, nhưng họ đã không có việc làm trong bao lâu. Khoảng thời gian dài thất nghiệp trong bảng dao động ít hơn 5 tuần đến 27 tuần và nhiều hơn nữa. Đặc biệt đáng chú ý sau đó là hầu hết các quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp đã hết hạn. Như vậy, sự gia tăng số lượng người trong thể loại cuối cùng này là đặc biệt đáng báo động.

Một xu hướng giảm trong thời gian thất nghiệp là một điềm báo rằng đã vượt qua điều tồi tệ nhất của những rắc rối trong nền kinh tế và sự phục hồi là điều có thể được dự báo. Gần đó là một đầu mối thống kê quan trọng: là chiều dài trung bình của thời gian thất nghiệp. Trong những năm 1990, thời gian trung bình của tỉ lệ thất nghiệp chỉ là 13 tuần, ngày nay, một suy thoái kinh tế có thể kéo dài khoảng thời gian nhàn rỗi lên đến hơn 19 tuần.bang luong phi nong nghiep 02bang luong phi nong nghiep 03

Bảng A-12: Alternative Measures of Labor Underutilization

  1. Tỷ lệ thất nghiệp chính được báo chính đưa tin rất nhiều. Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó, nó không bao gồm những người đang thất nghiệp và quá chán nản không tìm được việc làm. Tiêu đề tỉ lệ thất nghiệp cũng không bao gồm các nhân viên toàn thời gian bị mất việc làm của họ và từ đó dành phải miễn cưỡng chấp nhận một công việc bán thời gian chỉ để kiếm được thu nhập trang trải cuộc sống. Tuy nhiên, bảng này sẽ tính toán lại tỉ lệ thất nghiệp bao gồm các hạng mục khác(xem U-5 và U-6), và kết quả có thể gây sửng sốt. Khi các bạn thêm các nhóm khác của người lao động chán nản vào phương trình, tỉ lệ thất nghiệp có thể cao hơn 4% so với tỉ lê tiêu chuẩn.bang luong phi nong nghiep 04

Bảng B-1: Employees on Non-farm Payrolls by Industry Sector and Selected Industry Detail

  1. Nó cũng có giá trị xem sự thay đổi trong việc thuê lao động tạm thời cho các đầu mối của việc làm trong tương lai. Các công ty thường thích mướn sự giúp đỡ tạm thời khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng trước khi họ phải thuê nhân viên mới với chi phí cao hơn và phải đào tạo lại nhân viên. Những công việc tạm thời thường rẻ hơn, và họ cũng cung cấp linh hoạt hơn cho các doanh nghiệp và hơn thế nữa là các doanh nghiệp sẽ giảm biên chế trong những thời kỳ kinh tế khó khăn.bang luong phi nong nghiep 05

Bảng B-7: Diffusion Indexes of Employment Change (Not Shown)

Tên của bảng này là có thể sẽ làm phương thức để cảnh báo với nhiều người. Tuy nhiên, không phải e sợ vì tiêu đề của nó. Các dữ liệu ở đây là khá hữu ích nếu bạn muốn đánh giá niềm tin kinh doanh và xu hướng việc làm trong tương lai. Bảng này ghi nhận tỉ lệ % của các ngành công nghiệp đã tăng biên chế của họ trong 12 tháng, 6 tháng, 3 tháng, 1 tháng qua. Một con số 50% nghĩa là một nửa ngành công nghiệp mở rộng đội ngũ nhân viên của mình trong những giai đoạn đó, một con số 55% chỉ ra rằng hơn một nửa trong số đó đã thêm công nhân. Một con số dưới 50% nói lên rằng hầu hết các công ty cắt giảm số lượng nhân viên. Bảng này giúp chúng ta cải thiện hiểu biết về nền kinh tế trong hai cách. Đầu tiên, bằng cách nhìn vào những thay đổi % so với khung thời gian khác nhau, người ta có thể có được một cảm giác tốt cho dù việc sa thải nhân viên đang giảm đi và việc thuê thêm nhân công đang tăng lên. Thứ 2, nó cho thấy làm thế nào để phổ biến những thay đổi trong thị trường lao động.

 MARKET IMPACT

  • TRÁI PHIẾU

Traders sẽ có nhiều tác động tích cực khi có một báo cáo việc làm mạnh mẽ, đặc biệt là nếu nó gây bất ngờ. Các tin tức có thể báo trước sự gia tăng lạm phát và lãi suất, 2 vấn đề này sẽ tác động rất mạnh tới trái phiếu. Vì vậy, hãy chuẩn bị cho một cuộc bán tháo lợi tức chứng khoán cố định khi việc làm tạo ra tăng cao. Giá trái phiếu giảm trong bao lâu và có bao nhiêu lợi tức sẽ tăng lên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là nơi xảy ra những vấn để trong chu kỳ kinh tế. Nếu Mỹ đã có những quản lý để thoát ra khỏi suy thoái kinh tế, một bước nhảy trong việc làm có thể sẽ chỉ có tác động khiêm tốn về giá trái phiếu vì không có những nguy cơ của lạm phát. Tuy nhiên, nếu việc nền kinh tế tăng trưởng mạnh đạt đến mức thịnh vượng trong nền kinh tế thì lúc đó sẽ chuẩn bị xảy ra một sự giảm giá mạnh của trái phiếu và lãi suất tăng cao rõ rệt. Ngược lại, một loạt các báo cáo việc làm yếu phản ảnh một nền kinh tế chậm chạp hơn, đó là giá trái phiếu tăng có nghĩa là lãi suất sẽ thấp đi.

  • CỔ PHIẾU

Tin tức về việc làm mạnh mẽ có thể làm cho các nhà đầu tư cổ phiếu thấy tích cực và sẽ giao dịch nhiều hơn. Vì số lượng người nắm giữ sự gia tăng công việc làm và mở rộng tuần làm việc, nhân viên dễ dàng thế vào vai trò của người tiêu dùng và chi tiêu nhiều hơn. Kết quả: Kỳ vọng tăng doanh số kinh doanh và lợi nhuận sẽ tăng trong tương lai. Điều này có thể tạo tiền đề cho một cuộc biến động của thị trường chứng khoán. Ngoại lệ duy nhất là khi nền kinh tế đang tăng trưởng nóng với lãi suất và lạm phát quay lên. Chi phí vay cao hơn sẽ làm tổn thương các công ty và làm suy giảm giá cổ phiều.

Việc làm tăng trưởng ít hoặc không có tăng trưởng nói chung được coi là xấu với giá cổ phiếu. Điều lo ngại là các hộ gia đình sẽ ít có khuynh hướng mua sắm. Doanh số bán hàng giảm có thể làm cho thu nhập doanh nghiệp giảm sút, do đó làm giảm tỉ lệ nắm giữ cố phiếu.

  • ĐỒNG USD

Tin tuyển dụng rất có thể ảnh hưởng đến giá trị của đồng USD trên thị trường tiền tệ. Một báo cáo việc làm mạnh mẽ có thể đẩy lãi suất tăng cao hơn, làm cho đồng USD hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài. Bây giờ họ có thể kiếm được số lãi cao hơn bằng việc sở hữu trái phiếu kho bạc Mỹ. Mặt khác, một báo cáo việc làm không tốt khiến nhu cầu tiền tệ của Mỹ giảm đi, cổ phiếu sẽ chịu tác động áp lực giảm giá, và hai đều làm cho đồng USD ít hấp dẫn với người nước ngoài hơn.

Dịch từ cuốn: The Secret of Economic Indicator.

Source: Inter-Market Analysis Blog

—————————————————————-
Các bài viết phân tích chi tiết và tín hiệu giao dịch được update dành riêng cho khách hàng và học viên tại đây:
– Dịch vụ tư vấn phân tích: https://goo.gl/pHMMEb
– Khóa học online: https://goo.gl/3aEqyv
– Các bài phân tích cũ theo phương pháp phân tích liên thị trường:https://goo.gl/FaeoYK

Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles
Ngọc Hải M.Pearlie
Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
http://intermarketanalysisblog.com