INTER-MARKET MACROECONOMICS

Thị trường Trái Phiếu (Bond Market) – Tổng quan về bốn bộ phận cấu thành thị trường tài chính – M.Pearlie

TỔNG QUAN VỀ BỐN BỘ PHẬN CẤU THÀNH THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

      Thị trường tài chính nói chung được cấu thành từ nhiều thị trường nhỏ hơn, trong đó những thị trường nhỏ đó được phân bố lại thành bốn nhóm thị trường chính: Thị trường Trái phiếu, Thị trường Hàng hóa, Thị trường Tiền tệ, Thị trường Vốn/Cổ phiếu. Trong các quy luật liên thị trường thì điều đầu tiên và là quan trọng nhất chính là nắm vững được bốn bộ phận cấu thành thị trường tài chính nói chung, nắm vững ở đây không có nghĩa là các bạn phải biết tường tận từng thị trường mà làm gì, bởi vì chúng ta ở đây đa phần là những người giao dịch thị trường ngoại hối, một vài hàng hóa như vàng, bạc, dầu, đồng… cho đến những chỉ số Indices chính và có thể là những giao dịch hợp đồng quyền chọn. Vì vậy việc của chúng ta là phải nắm vững những gì liên quan đến thị trường mà chúng ta giao dịch, còn những thị trường khác việc cần làm là chúng ta hiểu được bản chất, sự hình thành và những mối tương quan của những thị trường đó tới cái thị trường mà chúng ta giao dịch thế nào.

      Vì lý do trên mà trong khuôn khổ cuốn sách này Tôi chỉ nói sâu về những giao dịch liên quan đến thị trường tiền tệ – giao dịch ngoại hối, một vài hàng hóa chính và những chỉ số Indices mà đại bộ phận Trader thị trường tài chính ở Việt Nam đang theo đuổi. Trước khi bắt đầu vào những chương sách sau để đi sâu vào từng phân tích chúng ta cần phải tìm hiểu nguồn gốc, định nghĩa và những vận động bên trong của mỗi thị trường đơn lẻ trước đã. Trong chương II này sẽ hệ thống lại những kiến thức cơ bản về bốn bộ phận cấu thành của thị trường tài chính.

THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU (BOND MARKET)

TỔNG QUAN, ĐỊNH NGHĨA VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

      Thị trường trái phiếu (còn gọi là thị trường Nợ hoặc thị trường tín dụng) là một thị trường tài chính mà những người tham gia có thể phát hành nợ mới, được coi là thị trường sơ cấp, hoặc mua và bán nợ chứng khoán được gọi là thị trường thứ cấp. Điều này thường là dưới hình thức trái phiếu.

  • Theo investopedia định nghĩa “Thị trường Trái Phiếu”: Một thị trường mà trong đó việc phát hành và giao dịch chứng khoán ghi nợ diễn ra. Thị trường trái phiếu chủ yếu bao gồm các từ chính phủ và chứng khoán nợ của công ty, tạo điều kiện cho việc luân chuyển vốn từ người tiết kiệm cho người phát hành hoặc các tổ chức huy động vốn cho các dự án của của chính phủ, mở rộng kinh doanh và các hoạt động đang diễn ra trên thị trường.
  • “DEFINITION of ‘Bond Market’”: The environment in which the issuance and trading of debt securities occurs. The bond market primarily includes government-issued securities and corporate debt securities, and facilitates the transfer of capital from savers to the issuers or organizations requiring capital for government projects, business expansions and ongoing operations.

      Dưới con mắt của một Trader thì Trái Phiếu thực chất là một mỹ danh từ của Nợ. Như định nghĩa ở trên Trái phiếu được phát hành ra với mục đích là ghi nợ, và những người phát hành trái phiếu thực chất là những con nợ. Người mua trái phiếu cũng không khác gì một người gửi tiết kiệm với mức lãi suất nào đó, chỉ khác điều là mớ trái phiếu đó được công chứng và đảm bảo bởi Chính Phủ, vậy nên khả năng xù nợ là rất ít tùy vào mức độ tín nhiệm của mỗi quốc gia. Cũng chính vì được đảm bảo bởi Chính Phủ cho nên thường thì những người đầu tư vào thị trường trái phiếu là những nhà đầu tư rất lớn và dòng vốn họ đầu tư vào đây thường lớn hơn nhiều so với các thị trường khác. Vậy Chính Phủ lấy cái gì để đảm bảo sẽ trả được nợ đó nếu một mai người đầu tư họ đồng loạt rút tiền về. Để có thể hạn chế rủi ro này mà các Chính Phủ đã nghĩ ra cách hạn mức kỳ hạn cho trái phiếu, và để có khoản lợi tức cao hơn thì đương nhiên những người mua trái phiếu sẽ phải chọn hạn mức ký gửi là nhiều năm, thường thì hạn mức trên 7 năm được gọi là trái phiếu kỳ hạn dài hạn. Nhưng bản chất thực của Nợ là gì, chả ai cho bạn vay tiền khi bạn chả có cái gì đảm bảo cả, Chính Phủ có cái gì để gán nợ đây: đất đai, lãnh thổ, con người, hay những nguồn tài nguyên khoáng sản… ồ không thể, không thể đem bán những thứ đó để gán nợ được, nếu như đó là nợ quốc nội (tức là nợ của chính người dân) thì không quá đáng ngại vì Chính Phủ có thể in tiền để trả được, nhưng nếu như đó là Nợ nước ngoài (tức là Nợ buộc phải trả bằng USD) thì không thể nào in tiền quốc nội ra được, mà lại càng không thể mang giang sơn đất nước để gán nợ, làm vậy có khác gì bán nước đâu. Do vậy chỉ có một cách mà Chính Phủ áp dụng đó chính là đem chính nền kinh tế ra thế chấp, điều này nghĩa là nếu chính phủ kỳ vọng rằng nền kinh tế trong tương lai sẽ tăng trường, GDP tăng cao, tiêu dùng tăng mạnh và các ngành nghề sản xuất phát triển thì lượng tiền THUẾ thu được đó sẽ vì thế mà tăng lên theo, điều này có nghĩa là CHÍNH PHỦ đang dùng chính nguồn tiền thu được từ THUẾ mà người dân đóng góp để thế chấp. Nhưng cho dù là Chính Phủ phát hành và được đảm bảo bởi thế chế, chế độ của quốc gia đó, thế nhưng không có nghĩa là không Xù Nợ nhé. Khả năng Xù Nợ đó được xét dựa trên mức độ tín nhiệm của mỗi quốc gia. Như có nêu ở phần chương I thì mức độ tín nhiệm của Việt Nam hiện tại là BB-, khá là thấp và điều này được hiểu thế này: quốc gia nào có mức độ tín nhiệm càng thấp thì số tiền lãi suất phải trả cho các khoản vay là cao hơn, bởi vì hiểu nôm na là một bác nông dân và một doanh nghiệp cùng vay vốn, thì đương nhiên là chủ doanh nghiệp sẽ được tín nhiệm cao hơn bởi vì khả năng trả được nợ của họ là cao hơn so với bác nông dân kia. Nhà bank hay cá nhân hay bất kỳ tổ chức cho vay vốn nào cũng vậy thôi, chả ai muốn cho một người vay mà biết rằng khả năng trả nợ của người đó là không cao cả.

      Để nói rõ hơn về vấn đề khả năng trả nợ chúng ta sẽ tìm hiểu thế nào là mức độ tín nhiệm trước và tại sao quốc gia càng giàu, càng phát triển thì số tiền lãi suất phải trả cho các khoản vay là càng thấp và mức độ tín nhiệm này được đánh giá như thế nào. Khả năng trả nợ được đánh giá bằng mức độ tín nhiệm (Credit rating).

      Một mức độ xếp hạng tín nhiệm là một đánh giá khả năng chi trả của con nợ, đặc biệt là một doanh nghiệp (công ty) hay một chính phủ, nhưng không phải là người tiêu dùng cá nhân. Việc đánh giá được thực hiện bởi một cơ quan xếp hạng tín nhiệm về khả năng trả nợ của con nợ đó. Những đánh giá đó được gọi là báo cáo tín dụng và thực hiện bởi văn phòng tín dụng, hoặc các cơ quan báo cáo tín dụng của người tiêu dùng. Xếp hạng tín nhiệm được xác định bởi các cơ quan xếp hạng tín nhiệm. Đánh giá tín dụng thể hiện đánh giá của cơ quan xếp hạng tín nhiệm bằng các thông tin và định lượng cho một công ty hay chính phủ, bao gồm cả thông tin thu được từ bên ngoài bằng những phân tích của các cơ quan xếp hạng tín nhiệm. Đánh giá tín dụng được sử dụng bởi các cá nhân và thực thể mua các trái phiếu phát hành bởi công ty và chính phủ để xác định khả năng chính phủ sẽ đảm bảo được rằng khả năng sẽ không Xù Nợ của những người mua trái phiếu đó.

  1. a) Xếp hàng tín nhiệm quốc gia: Một số tín nhiệm là đánh giá tín nhiệm của một chủ quyền thực thể, Ví dụ: một chính phủ quốc gia. Đánh giá tín nhiệm quốc gia (vùng lãnh thổ có chủ quyền) cho thấy mức độ rủi ro của môi trường đầu tư của một đất nước và được các nhà đầu tư sử dụng khi muốn đầu tư ra nước ngoài. Dưới đây là bảng đánh giá mức độ tín nhiệm của quốc gia: Các bảng xếp hạng rủi ro quốc gia đánh giá được mức độ rủi ro tổng thể bao gồm chính trị, kinh tế.

      Trong thực tế những quốc gia như Việt Nam chúng ta tuy hạn mức tín nhiệm kinh tế là không cao nhưng xét trên một góc độ khác thì Việt Nam lại là quốc gia rất an toàn và chính trị tương đối ổn định. Do vậy yếu tố trên sẽ góp phần không nhỏ trong việc xếp loại hạn mức tín nhiệm của chúng ta và cũng chính yếu tố trên mà nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam đang tăng lên đáng kể trong những năm gần đây.

      Sau khi tìm hiểu sơ bộ về cách xếp hạng hạng mức tín nhiệm quốc gia thì chúng ta có thể sơ bộ phân loại và có một bảng khá chi tiết về hạn mức tín nhiệm của phần lớn các quốc gia trên thế giới trong hình vẽ thống kê dưới đây (Hình 2.3)

Hinh 2.1 creditrating

Hình 2.1: Bảng xếp hạng mức độ tín nhiệm xếp theo đơn vị Quốc gia (nguồn: internet)

Hinh 2.2 credit-ratings

Hình 2.2: Bảng so sánh xếp hạng tín nhiệm quốc gia của 3 tổ chức hàng đầu hiện nay.

Hinh 2.3 Credit-Ratings1 standar and poor

Hình 2.3: Thống kê hạn mức tín nhiệm quốc gia của các quốc gia trên thế giới được thực hiện bởi tổ chức Standar & Poor (thống kê năm 2011)

      Một đánh giá ngắn hạn là một yếu tố xác xuất của một cá nhân đang mua trái phiếu đó với kỳ hạn trong vòng một năm. Điều này trái ngược với đánh giá dài hạn trong một khoảng thời gian dài. Trong các tổ chức đầu tư trong quá khứ rất thích xem xét xếp hạng hạng mức tín nhiệm dài hạn tuy nhiên ngày nay tình hình kinh tế thay đổi và những biến động đến với tốc độ nhanh hơn, các cuộc khủng hoảng xảy ra lập đi lập lại trong khoảng thời gian chừng vài năm, do vậy ngày này xếp hạng tín nhiệm thường sử dụng ngắn hạn.

  1. b) Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp: Xếp hạng tín nhiệm liên quan đến các tập đoàn, các công ty mà những tổ chức, tập đoàn, công ty này phát hành công cụ tài chính để huy động vốn dưới hình thức là trái phiếu. Các đánh giá về mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp được thực hiện bởi các tổ chức như là: Standard & Poor’s , Moody’s and Fitch Ratings. Cũng tương tự như các đánh giá mức độ tín nhiệm với quốc gia, thì với các doanh nghiệp cũng được sử dụng các chữ cái A,B,C để xếp hạng.

      Với một doanh nghiệp được đánh giá hạn mức tín nhiệm cao hơn tức là doanh nghiệp đó có đủ năng lực và nghĩa vụ để đáp ứng những cam kết về tài chính của họ, hay nói cách khác là những doanh nghiệp như vậy ít bị tác động, tổn thương mỗi khi có những biến động và xác xuất để họ thanh toán các khoản nợ là cao.

      Về phần trái phiếu doanh nghiệp thực sự không quá quan trọng với những người giao dịch trên thị trường tiền tệ, một vài hàng hóa chính và các chỉ số indices… Do vậy ở phần này chúng ta chỉ cần tìm hiểu cơ cấu của thị trường trái phiếu và điều quan trọng là chú ý vào một vài quốc gia lớn như Mỹ, Nhật, China, Liên minh EU… Ngoài ra những hàng mục khác trong thị trường trái phiếu chúng ta không cần thiết phải hiểu sâu. Trong các hạng mục xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp cũng được 3 tổ chức Standard & Poor’s , Moody’s and Fitch Ratings đánh giá, và hạng mức tín nhiệm cũng được dựa trên những chữ cái A,B,C,D.

Hinh 2.4 Han muc tin nhiem doanh nghiep

Hình 2.4: Bảng xếp hạng hạng mức tín nhiệm doanh nghiệp – Được thu thập bởi 3 tổ chức: Standard & Poor’s , Moody’s and Fitch Ratings

LỢI TỨC TRÁI PHIẾU (YIELDS) LÀ GÌ? TẠI SAO NHỮNG QUỐC GIA CÓ HẠNG MỨC TÍN NHIỆM CÀNG CAO THÌ LỢI TỨC CÀNG GIẢM?

      Trong phần trên chúng ta đã lần lượt tìm hiểu về bản chất, cấu trúc của thị trường trái phiếu, tuy nhiên đó mới chỉ là bề nổi, cũng chính vì thế mà ở trên Tôi nhấn mạnh là chúng ta chỉ cần quan tâm tới trái phiếu của một vài quốc gia có hạng mức tín nhiệm cao. Lý do là vì thế này theo đánh giá của Standard & Poor’s thì hạng mức tín nhiệm càng cao, tức là người vay có nhiều khả năng nhất để trả nợ (chẳng hạn như Mỹ) và hạng mức tín nhiệm càng thấp (như Việt Nam chẳng hạn) thì nước nào có uy tín càng cao tức là sẽ có nhiều khả năng trả được nợ nhất và khó vỡ nợ nhất, mà khi rủi ro vỡ nợ, xù nợ càng thấp thì mức lãi suất sẽ càng thấp. Như ví dụ về một bác nông dân và một doanh nghiệp vậy, đương nhiên là doanh nghiệp sẽ được vay với mức lãi suất thấp hơn nhiều rồi. Chính vì nguyên lý này mà lợi tức trái phiếu của những quốc gia có hạng mức tín nhiệm cao như Mỹ, Canada, Australia… bao giờ cũng thấp hơn rất nhiều so với những quốc gia khác. Nghĩa là thế này: khi chính phủ Mỹ phát hành trái phiếu thì những người dân mua trái phiếu của Mỹ sẽ cảm thấy an toàn hơn, và điều đó đồng nghĩa rằng khoản lãi mà họ nhận được từ chính phủ là thấp hơn. Và đây chính là yếu tố căn bản quyết định tới Bond Yield.

  • Theo investopedia định nghĩa: “Lợi tức trái phiếu”

Nguồn thu nhập trên % số vốn bỏ ra đầu tư. Đây chính là phần lãi hoặc cổ tức nhận được từ một trái phiếu và thường được thanh toán hàng năm như là một tỉ lệ % dựa trên chi phí đầu tư, giá thị trường hiện tại hoặc giá trị thực của trái phiếu.

DEFINITION of ‘Yield’

The income return on an investment. This refers to the interest or dividends received from a security and is usually expressed annually as a percentage based on the investment’s cost, its current market value or its face value.

      Yields (Lợi Tức) chính là linh hồn của trái phiếu, cho nên mọi phân tích về trái phiếu đều xuất phát từ phân tích lợi tức của nó. Thường thì trong các bài phân tích Tôi lấy trái phiếu hạn mức trên 7 năm để đưa vào từng nhận định. Xét về tầm quan trọng của Trái phiếu thì sẽ cần rất nhiều giấy bút lắm, để hiểu một cách đơn giản thì thế này: Trong bất kỳ đợt khủng hoảng nào (lấy ví dụ là đợt khủng hoảng gần đây nhất vào năm 2008), mặc dù năm 2008 khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thị trường nhà đất của Mỹ và sau đó lan rộng ra khắp thế giới, khiến cho thị trường toàn cầu rơi vào chu kỳ suy thoái lớn nhất từ trước đến nay, thị trường chứng khoán toàn cầu sụp đổ (ngay ở đất nước nhỏ bé như Việt Nam mà thị trường chứng khoán còn bốc hơi tận hơn 70%, lạm phát tăng lên gần 30% kia mà). Ấy thế nhưng tại sao tâm điểm của cuộc khủng hoảng là ở Mỹ nhưng trái phiếu của Mỹ lại tăng mạnh nhất, lượng tiền đổ vào trái phiếu mỹ rất lớn. Tại sao vậy? Bởi vì như có nói ở trên Mỹ được xếp hạng mức tín nhiệm rất cao, do vậy dù có là tâm điểm khủng hoảng đi nữa thì người ta vẫn chạy về với trái phiếu Mỹ, vì đó là bức tường thành an toàn nhất (nhìn quanh khắp nơi trên thế giới thì cũng chả có nơi nào an toàn hơn nữa) (Hình 2.5). Trong ví dụ này để thấy được trái phiếu là một bức tường thành trú ẩn mỗi khi có biến động liên quan đến tài chính, kinh tế. Do đó khi chúng ta quan sát trên biểu đồ lợi tức trái phiếu mà nó giảm đột ngột thì đó chính là một dấu hiệu khá rõ nét báo trước rằng sắp tới sẽ có một đợt sụp đổ của thị trường đó. Hay nói theo một cách đơn giản mang đầy chất kiếm hiệp: Trái phiếu là một thứ vũ khí vừa để tấn công, vừa để phòng thủ. Để giải thích rõ hơn vấn đề này chúng ta có thể hiểu đơn giản thế này: Khi thị trường Cảm Nhận (kỳ vọng) về nền kinh tế trong tương lai sẽ tốt hơn, tức là nền kinh tế sẽ tăng trưởng, lúc này người ta sẽ mạnh dạn vay nợ (ý nói là Chính Phủ và Doanh Nghiệp) sẽ phát hành thêm trái phiếu để huy động thêm vốn để phát triển đất nước/doanh nghiệp. Khi mà ai cũng muốn phát hành trái phiếu để cho người ta VAY (phát hành trái phiếu cho người dân mua để huy động vốn) thì sẽ khiến cho hiện tượng dư thừa số lượng trái phiếu được phát hành (dư thừa doanh nghiệp muốn VAY vốn phát triển kinh doanh) thì sẽ gây nên tác động là số người cần VAY thì nhiều mà số người cho VAY thì ít (tức là khó mà kiếm được người sẵn sàng mua trái phiếu). Vậy điều gì sẽ xảy ra: Các Bạn tưởng tượng nhé khi mình muốn vay tiền chẳng hạn, thì trước tiên phải đi KIẾM cái nhà Băng nào mà lãi suất thấp nhất để vay, ai dại gì vay lãi suất cao, tuy nhiên đó là điều mà những người đi vay mong muốn, nhưng nhà Băng thì không thích vậy, họ muốn cho vay với lãi suất cao hơn kia, nhưng mà để giữ chân được Khách hàng thì nhất định phải giảm lãi suất để cạnh tranh chứ. Đúng không?

Hinh 2.5 Dau hieu cua thi truong trai phieu bao hieu dot sup do cua thi truong chung khoan

Hình 2.5: US 10 years Bond Yields dự báo trước sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng năm 2008.

      Tiếp theo nhé: Trong ví dụ trên là phản ảnh trái ngược so với cái chúng ta đang tìm hiểu về hiện tượng DƯ THỪA số người đi VAY mà lại thiếu NGƯỜI CHO VAY. Nói gọn lại thì thế này khi mà Chính Phủ/Doanh Nghiệp phát hành quá nhiều trái phiếu ra thị trường, mà ai cũng muốn bán được càng nhanh càng tốt và bán được với giá cao (tức là giá trị trái phiếu họ phát hành ra sẽ cao) nhưng là khổ nỗi là số lượng người muốn mua trái phiếu để kiếm lợi nhuận từ lợi tức thì ít, vì thế nên để cạnh tranh và mong muốn tìm kiếm được thêm nhiều nhà đầu tư chịu mua trái phiếu thì họ Chính Phủ/Doanh Nghiệp sẽ phải nâng mức lợi tức lên, tức là chấp nhận trả cho người mua trái phiếu khoản lợi tức cao hơn, có làm như thế người ta mới chịu mua trái phiếu chứ. Trong trường hợp này. Yields tăng cao phản ánh NIỀM TIN vào nền kinh tế tốt hơn trong tương lai.

      Một trường hợp khác lý giải việc gọi trái phiếu là thứ tài sản phòng thủ là vì: Như có định nghĩa ở trên Trái Phiếu là một mỹ danh từ của Nợ, và tờ trái phiếu đó được đảm bảo bởi Chính Phủ/Doanh Nghiệp, nó khác với cổ phiếu ở chỗ Cổ Phiếu là một hình thức đầu tư mà người đầu tư góp vốn làm ăn chung với công ty/doanh nghiệp, còn người mua trái phiếu lại tương tự như một người cho công ty/doanh nghiệp/chính phủ vay mượn số tiền của mình. Bởi vì bản chất là góp vốn làm ăn chung cho nên những người đầu tư cổ phiếu có thể kiếm được những món lợi nhuận cực lớn, hoặc cũng có thể sẽ bị thiệt hại số tiền họ bỏ ra. Như vậy có nghĩa là những người đầu tư Cổ Phiếu sẽ không có một sự đảm bảo chắc chắn nào, còn những người đầu tư vào trái phiếu thì sẽ được chính doanh nghiệp/chính phủ đảm bảo, bởi vì nó là Nợ mà, đã là nợ thì phải trả cả vốn và lãi. Do đó Trái Phiếu còn được xem là một công cụ tránh rủi ro trong nền kinh tế. Mỗi khi có biến động kinh tế, tài chính… thì người ta sẽ tìm đến Trái Phiếu như một bức tường thành trú ẩn vậy, bởi vì lúc đó chỉ có Chính Phủ/Doanh Nghiệp lớn mới có thể đảm bảo chắc chắn số tiền mà người dân đang nắm giữ, thay vì giữ tiền mặt trong người hàm chứa nhiều rủi ro, có thể là lạm phát, mất giá đồng tiền… Ở ví dụ trên về cuộc khủng hoảng năm 2008 chính là minh chứng gần đây nhất và rõ ràng nhất để giải thích cho trường hợp này.

      Trên phương diện là một IA Trader thì việc quan sát biến động của Bond Yield để suy đoán market sentiment (Tâm lý hay cảm nhận của thị trường) của nền kinh tế trong tương lai. Hầu hết trong các trường hợp khi Yield tăng lên thì tức là cảm nhận của market trong tương lai sẽ tốt hơn. Tức là kinh tế sẽ tăng trưởng, và khi nền kinh tế tăng trưởng quá cao thì tất yếu gây nên hiện tượng lạm phát. Hệ quả của lạm phát là do giá cả hàng hóa tăng cao, tức là nói một cách dễ hiểu thì Thị trường Trái phiếu sẽ là thước đo sớm nhất, nhanh nhất để tiên đoán lạm phát trong tương lai của nền kinh tế. Mà tiên đoán được lạm phát thì điều đầu tiên các Central bank nghĩ đến là phân lời, lạm phát tăng quá cao thì phải nâng lãi suất và ngược lại trong trường hợp Bond Yield giảm.

PHÂN LOẠI TRÁI PHIẾU: TRÁI PHIẾU NGẮN HẠN VÀ TRÁI PHIẾU DÀI HẠN

      Trong thực tế có khá nhiều cách để phân loại trái phiếu. Nhưng với một Trader thì Trái phiếu được phân loại thành các kỳ hạn. Trong đó Trái phiếu có kỳ hạn dưới 2 năm gọi là Ngắn hạn, Trái phiếu có kỳ hạn từ 3-7 năm là trung hạn và Trái phiếu có kỳ hạn trên 7 năm được gọi là dài hạn. Vì bản chất của trái phiếu là Nợ, do vậy nên khi kỳ hạn càng dài thì rủi ro sẽ càng lớn, rủi ro có thể nhiều hình thức, giả sử như lạm phát trong nền kinh tế quá cao, đồng tiền mất giá hoặc rủi ro vỡ nợ Chính phủ/Doanh nghiệp… Cũng chính vì là rủi ro cao nên lợi tức cũng phải cao hơn, như vậy trong một nền kinh tế ổn định và không có suy thoái thì trái phiếu có kỳ hạn càng lâu thì lợi tức sẽ càng tăng cao. Tôi nhắc đến trong một nền kinh tế ổn định, và nếu như có suy thoái, kinh tế đi xuống thì lúc này lợi tức có còn tuân thủ theo quy luật đó nữa hay không? Để giải thích rõ hơn chúng ta sẽ chuyển sang một khái niệm mới về Đường Cong Lợi Tức (Yield Curve). Thông thường trong phân tích thị trường currency, một vài hàng hóa kim khoáng quặng chính và những chỉ số Indices thì chúng ta sử dụng hình thức phân loại theo kỳ hạn sẽ phản ảnh được một cách nhanh chóng nhất. Ngoài ra thì cũng có những hình thức phân loại khác, nhưng ít được quan tâm hơn:

Phân loại theo người phát hành

  1. Trái phiếu của Chính phủ: Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, chính phủ phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ chức kinh tế, xã hội. Chính phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị trường; Vì vậy, Trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán có ít rủi ro nhất.
  2. Trái phiếu của doanh nghiệplà những trái phiếu do doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăng vốn hoạt động. Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng.
  3. Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính: các tổ chức này có thể phát hành trái phiếu để tăng thêm vốn hoạt động.

Phân loại lợi tức trái phiếu

  1. Trái phiếu cólãi suất cố định là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá.
  2. Trái phiếu cólãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi) là loại trái phiếu mà lợi tức được trả trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu.
  3. Trái phiếu có lãi suất bằng không là loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn.

Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành

  1. Trái phiếu bảo đảm là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành. Khi nhà phát hành mất khả năng thanh toán, thì trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền người phát hành còn nợ. Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một số loại chủ yếu sau:
    • Trái phiếu có tài sản cầm cố là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc người phát hành cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ. Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ.
    • Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ là loại trái phiếu được bảo đảm bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo đảm.
  2. Trái phiếu không bảo đảm là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật bảo đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành.

Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu

  1. Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và trong sổ sách của người phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi.
  2. Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong sổ sách của người phát hành.

Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu

  1. Trái phiếu có thể chuyển đổi là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ được quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó. Việc này được quy định cụ thể về thời gian và tỷ lệ khi mua trái phiếu.
  2. Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho phép trái chủ được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công ty.
  3. Trái phiếu có thể mua lại là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được quyền mua lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán

ĐƯỜNG CONG LỢI TỨC (YIELD CURVE) LÀ GÌ? TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐƯỜNG CONG LỢI TỨC

      Việc mua bán trái phiếu cũng giống như vay mượn của ngân hàng vậy, và bất cứ dịch vụ gì cũng đều phải trả một khoản tiền lãi suất, thì trong thị trường trái phiếu cũng vậy, khi Chính Phủ/Doanh Nghiệp muốn huy động vốn thì sẽ phát hành trái phiếu và đương nhiên là họ mang tiền đến cho những vị đó thì tất nhiên các vị ấy phải trả lãi cho họ rồi, đó chính là lợi tức của trái phiếu. Tuy nhiên lợi tức cũng như kỳ hạn vay vốn hay gửi tiết kiệm với ngân hàng vậy, không phải kỳ hạn nào cũng giống kỳ hạn nào, và nếu như chúng ta nối những hạn mức lợi tức trái phiếu đó lại thì sẽ được một đường cong gọi là đường cong lợi tức.

  • Theo Investopedia định nghĩa: “Đường Cong Lợi Tức”

Một đường cong thể hiện mức lãi suất, tại cùng một thời điểm nhất định. Trái phiếu có chất lượng tín nhiệm ngang nhau (thường thì cùng một quốc gia/doanh nghiệp phát hành), nhưng khác nhau ngày đáo hạn. Các đường cong lãi suất kỳ hạn khác nhau như là: 3 tháng, 1 năm, 2 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm, 20 năm, 30 năm… lấy ví dụ từ trái phiếu kho bạc Mỹ. Đường cong lãi suất này được sử dụng như một mức chuẩn cho các khoản nợ khác trên thị trường, chẳng hạn như lãi suất thế chấp hoặc lãi suất cho vay của ngân hàng. Đường cong cũng được sử dụng để dự đoán những thay đổi trong sản lượng kinh tế và tăng trưởng trong nền kinh tế.

DEFINITION of ‘Yield Curve’

A line that plots the interest rates, at a set point in time, of bonds having equal credit quality, but differing maturity dates. The most frequently reported yield curve compares the three-month, two-year, five-year and 30-year U.S. Treasury debt. This yield curve is used as a benchmark for other debt in the market, such as mortgage rates or bank lending rates. The curve is also used to predict changes in economic output and growth.

Hinh 2.6 US Treasury Yield Curve

Hình 2.6: Đường cong lợi tức Trái Phiếu Chính Phủ Mỹ tại thời điểm ngày 16/11/2015 (nguồn: http://www.treasury.gov/)

CÁC DẠNG HÌNH THÁI ĐẶC TRƯNG CỦA ĐƯỜNG CONG LỢI TỨC

      Cũng tương tự như các hàng hóa, thị trường khác thì Trái Phiếu cũng có rất nhiều hình thái khác nhau, rất nhiều trường hợp khác nhau để phản ảnh thị trường hiện tại và tương lai. Để có thể hiểu sâu hơn về các dạng hình thái này và tại sao đường cong lợi tức lại là kim chỉ nam để tiên đoán tương lai của nền kinh tế thì chúng ta phải hiểu rõ bản chất của từng dạng đường cong lợi tức đã.

      Đường cong lợi tức bình thường (dạng chuẩn): Từ sau giai đoạn đại suy thoái thì đường cong lợi tức đã trở lại dạng bình thường, có nghĩa là lợi tức tăng khi kỳ hạn đáo hạn càng dài (tức là độ dốc đường con lợi tức là dương tính). Độ dốc dương phản ánh kỳ vọng nền kinh tế được đầu tư để phát triển trong tương lai, và quan trọng cho sự tăng trưởng này là liên kết với một kỳ vọng lớn hơn là lạm phát trong tương lai vì thế cũng sẽ tăng. Kỳ vọng lạm phát tăng dẫn đến kỳ vọng rằng các ngân hàng trung ương sẽ thắt chặt chính sách tiền tệ bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn trong tương lai để làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế và kiềm chế áp lực lạm phát. Nó cũng tạo ra một nhu cầu cho một chi phí bảo hiểm rủi ro liên quan với sự không chắc chắn về tương lai tỉ lệ lạm phát và nguy cơ này đặt ra cho các giá trị tương lai của dòng tiền. Các nhà đầu tư giá trị nhận thấy rủi ro này bằng cách nhìn đòi hỏi mức lợi tức cao hơn cho các trái phiếu ngắn hạn và trung hạn trong tương lai. Tuy nhiên một đường cong lợi tức dốc tích cực không phải luôn luôn là tiêu chuẩn. Qua giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu 20 nền kinh tế Mỹ có xu hướng tăng trưởng nhưng lại phải đối mặt giảm phát. Trong thời gian này các đường cong lợi tức thường đảo ngược, tức là lợi tức trái phiếu kỳ hạn càng ngắn thì lợi tức càng cao, phản ảnh thực tế là giảm phát khiến dòng tiền hiện tại ít có giá trị hơn so với các dòng tiền trong tương lai. Như vậy rút ra được rằng trong một giai đoạn giảm phát thì đường cong lợi tức có xu hướng đảo ngược.

      Đường cong lợi tức dốc: Trong lịch sử, trái phiếu kho bạc kỳ hạn 20 năm đạt mức trung bình khoảng 2% chênh lệch so với kỳ hạn 3 tháng. Trong các tình huống khi khoảng cách này tăng lên (ví dụ như lợi tức trái phiếu 20 năm tăng cao hơn so với lợi tức kỳ hạn 3 tháng), điều này có nghĩa là nền kinh tế trong tương lai sẽ được cải thiện nhanh chóng. Đây là loại đường cong có thể được nhìn thấy ở giai đoạn đầu của chu kỳ tăng trưởng nền kinh tế (hoặc sau khi kết thúc một cuộc suy thoái). Ở đây, kinh tế trì trệ sẽ có lãi suất ngắn hạn thấp, tuy nhiên giá bắt đầu tăng lên khi nhu cầu huy động vốn được tái thiết lập bởi các hoạt động phát triển kinh tế. Vào tháng 1 năm 2010, khoảng cách giữa lợi tức trái phiếu 2 năm và 10 năm mở rộng đến 2,92%, cao nhất từ trước đến nay. Trong trường hợp này đường cong lợi tức quá dốc.

      Đường cong lợi tức dạng phẳng hoặc hơi dốc: Một đường cong lợi tức phẳng được quan sát thấy khi tất cả các kỳ hạn đều gần như có mức lợi tức tương tự nhau, trong trường hợp này thì đường cong lợi tức đang gửi một tín hiệu bất ổn trong nền kinh tế. Tín hiệu hỗn hợp này có thể trở lại dạng đường cong lợi tức bình thường hoặc sau này có thể cho kết quả thành một đường cong ngược. Để hiểu thêm về tín hiệu báo trước sự sụp đổ của nền kinh tế dựa vào đường cong lợi tức dạng phẳng chúng ta có thể quan sát thời điểm cuộc khủng hoảng năm 2008 diễn ra, trước khi cuộc khủng hoảng chính thức bắt đầu thì đường cong lợi tức đã có những thay đổi lớn và dạng phẳng xuất hiện như là một dự báo trước vậy.

Hinh 2.7 Duong cong loi tuc co xu huong phang du bao truoc thoi ky suy thoai kinh te

Hình 2.7: Đường cong lợi tức chuyển sang dạng phẳng là dấu hiệu báo trước cho sự sụp đổ trên thị trường vào giai đoạn cuối năm 2007 đầu năm 2008. (nguồn: http://www.treasury.gov/)

      Đường cong lợi tức đảo ngược: Một đường cong lợi tức ngược xảy ra khi lợi tức trái phiếu dài hạn thấp hơn lợi tức trái phiếu ngắn hạn. Trong những trường hợp bất thường, các nhà đầu tư dài hạn sẽ bắt đầu có những lo ngại rằng nền kinh tế sẽ tăng trưởng chậm lại hoặc thậm chí là suy thoái trong tương lai. Quả thực là trong suốt quãng thời gian từ 1970 đến nay đã 7 lần đường cong lợi tức đảo ngược và cả 7 lần đó nền kinh tế đến đi xuống sau đó và rơi vào suy thoái. Do vậy các ngân hàng trung ương sẽ quan sát đường cong lợi tức rất kỹ để tiên đoán những giai đoạn trong nền kinh tế, khả năng dự báo trước nền kinh tế khi nhìn vào một đường cong lợi tức đảo ngược là rất cao. Ngoài khả năng dự báo sự suy giảm kinh tế, các đường cong lợi tức ngược cũng hàm ý rằng thị trường tin rằng lạm phát vẫn ở mức thấp và sẽ có thể dẫn đến giảm phát trong tương lai. Điều này là vì ngay cả khi có một cuộc suy thoái, lợi tức trái phiếu thấp vẫn sẽ được khỏa lấp bởi lạm phát thấp, tuy nhiên nếu có một thay đổi nào đó hoặc tính huống ngoài dự đoán với kinh tế toàn cầu, có thể gây ra sự gia tăng nhu cầu đối với trái phiếu dài hạn khiến lợi tức trái phiếu dài hạn giảm.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐƯỜNG CONG LỢI TỨC

      Thông qua những định nghĩa và lần lượt đi qua các dạng của đường cong lợi tức phần nào cũng đã nêu lên được bức tranh toàn cảnh thị trường trái phiếu, mặc dù có nhiều hình thái trái phiếu như là trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ. Nhưng trong khuôn khổ của một currency trader thì chúng ta quan tâm nhiều hơn đến trái phiếu chính phủ, và đặc biệt hơn cả là trái phiếu của một vài nền kinh tế lớn nhất trên thế giới trong đó đặc biệt chú ý đến trái phiếu Mỹ. Vì như đã giải thích trên: dù thế nào đi nữa thì trái phiếu Mỹ vẫn là bức tường thành trú ẩn an toàn nhất mỗi khi có biến động khủng hoảng, do đó chỉ một vài thay đổi trên đường cong lợi tức của Mỹ thôi cũng sẽ là những dấu hiệu dự báo trước cho nền kinh tế toàn cầu. Trong những phân tích thực tế mà Tôi áp dụng và trong khuôn khổ cuốn sách này Tôi thường sử dụng một vài Bond yield kỳ hạn trên 7 năm và thường thì theo dõi những biểu đồ live price đó ở trang web www.investing.com (trong phần phụ lục Tôi sẽ cố gắng lý giải thật chi tiết về phương pháp theo dõi tin tức và biểu đồ).

      Thêm một lưu ý nữa là sẽ có nhiều bạn lầm tưởng rằng quan sát giá trái phiếu, lợi tức trái phiếu chỉ thích hợp với những người giao dịch dài hạn, điều này không sai và đúng là với những ai giao dịch dài hạn thì sẽ rất quan tâm đến trái phiếu nhưng điều đó không có nghĩa là những người giao dịch day trader và swing trade như Tôi chẳng hạn lại bỏ qua, việc quan sát thị trường trái phiếu trước khi quyết định giao dịch với hàng hóa, các cặp tiền và một vài chỉ số indices là rất quan trọng, theo dõi streaming chart lợi tức trái phiếu trên 7 năm là cực kỳ cần thiết đó.

Trích Phần I – Chương II – Cuốn sách: Phân Tích Cơ Bản và Kỹ Thuật Liên Thị Trường Trong Giao Dịch Tài Chính

Ngọc Hải M.Pearlie

Source: Inter-Market Analysis Blog

—————————————————————-
Các bài viết phân tích chi tiết và tín hiệu giao dịch được update dành riêng cho khách hàng và học viên tại đây:
➡️ Dịch vụ tư vấn phân tích: https://goo.gl/pHMMEb
➡️ Khóa học online: https://goo.gl/3aEqyv

– Các bài phân tích cũ theo phương pháp phân tích liên thị trường:https://goo.gl/Fa

Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles
Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!

http://intermarketanalysisblog.com