GÓC NHÌN M.PEARLIE

Góc nhìn M.Pearlie: Luận bàn về Nợ và làm thế nào để hạn chế gia tăng Nợ Công với nền kinh tế đang phát triển.

Nợ Công là một thuật ngữ dùng để chỉ những khoán vay của Chính Phủ.

Một chính phủ muốn hoạt động và điều hành các hoạt động của bộ máy chính quyền, đầu tư phát triển đất nước… thì buộc phải có Tiền. Tuy nhiên lượng Tiền Thuế mà chính phủ thu được sẽ không đủ để chi tiêu và tất cả các hoạt động trên, điều này dẫn đến thâm hụt chi tiêu, thâm hụt ngân sách chính phủ. Và không còn cách nào khác, muốn đất nước phát triển nhanh và thu được nhiều Thuế thì chính phủ phải vay mượn từ chính người dân hoặc vay nợ nước ngoài.

Ở đây các khoản vay nợ từ chính người dân là những khoản vay An Toàn, bởi vì trong trường hợp cấp bách Central Bank có thể in tiền để trả cho người dân. Với một đất nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật Bản, Canada… thì việc chính phủ vay nợ người dân diễn ra êm thuận, tức là đồng tiền của những quốc gia đó có giá trị cao và khả năng nó mất giá là thấp, vì thế cho nên người dân họ sẽ tin tưởng hơn và sẵn sàng mua trái phiếu chính phủ. Nhưng với những quốc gia nghèo và đang phát triển thì hệ thống tài chính và giá trị đồng tiền sẽ không được đảm bảo một cách chắc chắn, dù cho neo cố định tỉ giá với đồng USD đi chăng nữa thì cũng không tránh khỏi việc Central Bank phải phá giá đồng tiền để thúc đẩy thương mại, tăng trưởng kinh tế, tạo ra lạm phát đồng tiền và lạm phát giá tiêu dùng.

no cong cua viet nam

  • Phát hành trái phiếu chính phủ: Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro về tỷ giá hối đoái.
  • Vay trực tiếp: Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế)… Hình thức này thường được Chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao.

Các vấn đề gặp phải khi tính toán nợ chính phủ

  • Lạm phát Chỉ tiêu thâm hụt ngân sách khi tính toán thường không điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát vì trong tính toán chi tiêu của Chính phủ, người ta tính toán các khoản trả lãi vay theo lãi suất danh nghĩa trong khi đáng lẽ chỉ tiêu này chỉ nên tính theo lãi suất thực tế. Do lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát, nên thâm hụt ngân sách đã bị phóng đại. Trong những thời kỳ lạm phát ở mức cao và nợ chính phủ lớn thì ảnh hưởng của yếu tố này rất lớn.
  • Tài sản đầu tư Nhiều nhà kinh tế cho rằng tính toán nợ chính phủ cần phải trừ đi tổng giá trị của tài sản chính phủ. Điều này cũng đơn giản như khi xử lý tài sản của cá nhân: khi một cá nhân vay tiền để mua nhà thì không thể tính anh ta đã thâm hụt ngân sách bằng số tiền đã vay mà phải trừ đi giá trị của căn nhà. Tuy nhiên khi tính toán theo phương pháp này lại gặp phải vấn đề những gì nên coi là tài sản của chính phủ và tính toán giá trị của chúng như thế nào, ví dụ: đường quốc lộ, kho vũ khí hay chi tiêu cho giáo dục…
  • Các khoản nợ tiềm tàng Nhiều nhà kinh tế lập luận rằng tính toán nợ chính phủ đã bỏ qua các khoản nợ tiềm tàng như tiền trợ cấp hưu trí, các khoản bảo hiểm xã hội mà chính phủ sẽ phải chi trả cho người lao động hay các khoản mà chính phủ sẽ phải chi trả khi đứng ra bảo đảm cho các khoản vay của người có thu nhập thấp mà trong tương lai họ không có khả năng thanh toán…

Việc vay nợ quá nhiều tính trên tỉ lệ % GDP là một điều rất đáng lo ngại, chính cái mức nợ tăng cao cho nên với một đất nước đang phát triển thì sẽ phải trả mức lãi suất cho các khoản nợ đó cao hơn. Mà chính vì mức lãi suất phải trả theo từng năm cao vậy nên việc thâm hụt ngân sách sẽ xảy ra thường xuyên, thế thì chính phủ sẽ lấy tiền đâu ra nữa để mà phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng? Những gánh nặng đó sẽ dồn lên chính người dân, họ sẽ phải thắt chặt chi tiêu, thắt lưng buộc bụng, các mức thuế phải chịu cao hơn. Nói chung là một quốc gia đang phát triển thì việc phải vay nợ để kiến thiết đất nước là điều nên làm, tuy nhiên việc chi tiêu không hợp lý, thất thoát nguồn vốn và vấn nạn tham ô hối lộ, rút ruột… khiến cho ngân sách ngày càng kiệt quệ đi, sẽ là trầm trọng hơn nếu như  không có một biện pháp thắt chặt chi tiêu chính phủ. Trái phiếu của các nước đang phát triển không được đánh giá cao và cái mức lợi tức mà chính phủ phải trả khi huy động vốn trong dân và doanh nghiệp là cao hơn. Vì thế nên nợ chính phủ cao là một mối lo khiến các nhà lãnh đạo đau đầu, người dân phản đối.

Câu hỏi đặt ra là tiết giảm chi tiêu như thế nào cho hợp lý, sử dụng nguồn vốn hợp lý và tránh thất thoát chi tiêu công… Bài toán nan giải này không chỉ VN chúng ta mà toàn thế giới cũng đang phải gặp phải, với một bộ máy công chức cồng kềnh, lãng phí và thiếu đi năng suất hiệu quả công việc là điều gây ảnh hưởng nhiều nhất. Theo thống kê và phát biểu từ chính Thủ Tướng Chính Phủ thì số công chức sáng cắp ô đi chiều cắp về, và không có họ cũng chả sao là 1/3 số lượng công chức ăn lương nhà nước hiện tại. Vậy thì điều cần làm nhất với các quốc gia vay nợ nhiều chính là tiết giảm chi tiêu công từ cái bộ máy chính quyền quá cồng kềnh đó. Nhưng để làm được thì không hề đơn giản chút nào…

No-cong

Về hiệu suất của tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tế
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:

  • Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút. Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư.
  • Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là một tổng thể thì chính phủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội. Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên).
  • Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái phiếu chính phủ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, thể hiện qua việc chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tế cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân, khiến họ giảm đầu tư. Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu ròng. Tóm lại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu.
  • Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài sản thì khi chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất, người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn. Tổng cầu nhận được tác động tích cực từ việc tăng chi tiêu chính phủ (nhờ phát hành công trái) và tăng tiêu dùng nói trên. Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tới tăng lượng cầu tiền. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát).

Ngọc Hải M.Pearlie tổng hợp.

Source: B&B Investment – Inter-Market Analysis Blog

—————————————————————-
Các bài viết phân tích chi tiết và tín hiệu giao dịch được update dành riêng cho khách hàng và học viên tại đây:
➡️ Dịch vụ tư vấn phân tích: https://goo.gl/pHMMEb
➡️ Khóa học online: https://goo.gl/3aEqyv

– Các bài phân tích cũ theo phương pháp phân tích liên thị trường:https://goo.gl/Fa

Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles
Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!

http://intermarketanalysisblog.com