INTER-MARKET MACROECONOMICS

Mười nguyên lý của kinh tế học – Nền kinh tế với tư cách một tổng thể vận hành như thế nào? – 3 nguyên lý cuối cùng.

NỀN KINH TẾ VỚI TƯ CÁCH MỘT TỔNG THỂ VẬN HÀNH NHƯ THẾ NÀO?

Chúng ta bắt đầu bằng việc thảo luận về cách thức ra quyết định cá nhân, sau đó xem xét phương thức con người tương tác với nhau. Tất cả các quyết định và sự tương tác này tạo thành “nền kinh tế”. Ba nguyên lý cuối cùng liên quan đến sự vận hành của nền kinh tế nói chung.

Nguyên lý 8: Mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nước đó

Sự chênh lệch mức sống trên thế giới rất đáng kinh ngạc. Vào năm 1997, bình quân một người Mỹ có thu nhập là 29.000 đô la. Cũng trong năm đó, một người Mê-hi-cô có thu nhập bình quân là 8000 đô la và một người Ni-giê-ria bình quân có thu nhập là 900 đô la.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi sự khác biệt trong thu nhập bình quân được phản ánh ở các chỉ tiêu khác nhau về chất lượng cuộc sống. Công dân của các nước thu nhập cao có nhiều ti vi hơn, nhiều ô tô hơn, chế độ dinh dưỡng tốt hơn, dịch vụ y tế tốt hơn và tuổi thọ cao hơn người dân ở các nước thu nhập thấp.

Những thay đổi mức sống theo thời gian cũng rất lớn. Trong lịch sử, thu nhập ở Mỹ tang khoảng 2% một năm (sau khi đã loại trừ những thay đổi trong giá sinh hoạt). Với tốc độ tăng trưởng này, cứ 35 năm thu nhập bình quân lại tăng gấp đôi. Trong thế kỷ qua, thu nhập bình quân đã tăng gấp tám lần.

Đâu là nguyên nhân của sự khác biệt to lớn về mức sống giữa các quốc gia và theo thời gian?

Câu trả lời đơn giản đến mức đáng ngạc nhiên. Hầu hết sự khác biệt về mức sống có nguyên nhân ở sự khác nhau về năng suất lao động của các quốc gia – tức số lượng hàng hóa được làm ra trong một giờ lao động của một công nhân. Ở những quốc gia người lao động sản xuất được lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn trong một đơn vị thời gian, hầu hết người dân được hưởng mức sống cao; còn ở các quốc gia có năng suất kém hơn, hầu hết người dân phải chịu cuộc sống đạm bạc. Tương tự, tốc độ tăng năng suất của một quốc gia quyết định tốc độ tăng thu nhập bình quân của quốc gia đó.

Mối quan hệ cơ bản giữa năng suất và mức sống khá đơn giản, nhưng có những hàm ý sâu rộng. Nếu năng suất là nhân tố thiết yếu quyết định mức sống, thì những lý do khác phải đóng vai trò thứ yếu. Chẳng hạn, người ta có thể cảm nhận rằng nghiệp đoàn hoặc luật về tiền lương tối thiểu có đóng góp làm tăng mức sống của công nhân Mỹ trong thế kỷ qua. Song người anh hùng thật sự của công nhân Mỹ là năng suất lao động ngày càng tăng lên của họ.

Một ví dụ khác là một số nhà bình luận cho rằng sự cạnh tranh tăng lên từ Nhật và các nước khác là nguyên nhân dẫn tới mức tăng trưởng chậm trong thu nhập quốc dân của Mỹ suốt 30 năm qua. Nhưng tên tội phạm thực sự không phải là sự cạnh tranh từ nước ngoài, mà chính là sự tăng trưởng chậm của năng suất ở Mỹ.

Mối liên hệ giữa năng suất và mức sống còn có hàm ý sâu sắc đối với chính sách của nhà nước. Khi suy nghĩ xem chính sách bất kỳ sẽ tác động như thế nào đến mức sống, vấn đề then chốt là nó sẽ tác động tới năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ như thế nào. Để nâng cao mức sống, các nhà hoạch định chính sách cần làm tăng năng suất lao động bằng cách đảm bảo cho công nhân được đào tạo tốt, có đủ các công cụ cần thiết để sản xuất hàng hóa và dịch vụ và được tiếp cận những công nghệ tốt nhất hiện có.

Nguyên lý 9: Giá cả tăng khi chính phủ in quá nhiều tiền

Vào tháng 1 năm 1921, giá một tờ nhật báo ở Đức là 0,3 mác. Chưa đầy hai năm sau, vào tháng 11 năm 1922 cũng tờ báo ấy giá 70.000.000 mác. Giá của tất cả các mặt hàng khác trong nền kinh tế cũng tăng với tốc độ tương tự. Đây là một trong những ví dụ ngoạn mục nhất lịch sử về lạm phát– tức sự gia tăng của mức giá chung trong nền kinh tế.

Mặc dù nước Mỹ chưa từng trải qua cuộc lạm phát nào tương tự như ở Đức vào những năm 1920, nhưng đôi khi lạm phát cũng là một vấn đề kinh tế. Ví dụ trong những năm 1970, mức giá chung tăng gấp hơn hai lần và tổng thống Gerald Ford đã gọi lạm phát là “kẻ thù số một của công chúng”. Ngược lại, lạm phát trong những năm 1990 chỉ khoảng 3% một năm; với tỷ lệ này, giá cả phải mất hơn hai mươi năm để tăng gấp đôi. Vì lạm phát cao gây nhiều tổn thất cho xã hội, nên giữ cho lạm phát ở mức thấp là một mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách kinh tế trên toàn thế giới.

Nguyên nhân gây ra lạm phát là gì? Trong hầu hết các trường hợp lạm phát trầm trọng hoặc kéo dài, dường như đều có chung một thủ phạm – sự gia tăng của lượng tiền. Khi chính phủ tạo ra một lượng lớn tiền, giá trị của tiền giảm. Vào đầu những năm 1920, khi giá cả ở Đức tăng gấp 3 lần mỗi tháng, lượng tiền cũng tăng gấp 3 lần mỗi tháng. Dù ít nghiêm trọng hơn, nhưng lịch sử kinh tế Mỹ cũng đã đưa chúng ta đến một kết luận tương tự: lạm phát cao trong những năm 1970 đi liền với sự gia tăng nhanh chóng của lượng tiền và lạm phát thấp trong những năm 1990 đi liền với sự gia tăng chậm của lượng tiền.

Nguyên lý 10: Xã hội đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp

Nếu dễ dàng lý giải lạm phát như vậy, thì tại sao đôi khi các nhà hoạch định chính sách vẫn gặp rắc rối trong việc chèo lái con thuyền nền kinh tế. Một lý do là người ta nghĩ rằng việc cắt giảm lạm phát thường gây ra tình trạng gia tăng tạm thời của thất nghiệp. Đường minh họa cho sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp được gọi là đường Phillips, để ghi công tên nhà kinh tế đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ này.

Đường Phillips vẫn còn là một đề tài gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế, nhưng hiện nay hầu hết các nhà kinh tế đều chấp nhận ý kiến cho rằng có sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp. Điều đó chỉ hàm ý rằng trong khoảng thời gian một hay hai năm, nhiều chính sách kinh tế đẩy lạm phát và thất nghiệp đi theo những hướng trái ngược nhau. Bất kể thất nghiệp và lạm phát ban đầu ở mức cao (như đầu những năm 1980) hay thấp (như cuối thập kỷ 1990) hay nằm ở đâu đó giữa hai thái cực đó, thì các nhà chính sách vẫn phải đối mặt với sự đánh đổi này.

Tại sao chúng ta lại phải đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn nêu trên? Theo cách lý giải phổ biến, vấn đề phát sinh từ việc một số loại giá cả thay đổi chậm chạp. Ví dụ, chúng ta hãy giả định rằng chính phủ cắt giảm lượng tiền trong nền kinh tế. Trong dài hạn, kết quả của chính sách này là mức giá chung giảm. Song không phải tất cả giá cả đều thay đổi ngay lập tức.

Phải mất nhiều năm để tất cả doanh nghiệp đưa ra các bản chào hàng mới, để tất cả các công đoàn chấp nhận nhượng bộ về tiền lương và tất cả các nhà hàng in thực đơn mới. Điều này hàm ý giá cả được coi là cứng nhắc trong ngắn hạn.

Vì giá cả cứng nhắc, nên ảnh hưởng trong ngắn hạn của các chính sách mà chính phủ vận dụng khác với ảnh hưởng của chúng trong dài hạn. Chẳng hạn khi chính phủ cắt giảm lượng tiền, nó làm giảm số tiền mà mọi người chi tiêu. Khi giá cả bị mắc ở mức cao, mức chi tiêu sẽ giảm và điều này làm giảm lượng hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp bán ra. Mức bán ra thấp hơn đến lượt nó buộc các doanh nghiệp phải sa thải công nhân. Như vậy, biện pháp cắt giảm lượng tiền tạm thời làm tăng thất nghiệp cho đến khi giá cả hoàn toàn thích ứng với sự thay đổi.

Sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp chỉ có tính tạm thời, nhưng nó có thể kéo dài trong một vài năm. Vì vậy, đường Phillips có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu các xu thế phát triển của nền kinh tế. Đặc biệt, các nhà hoạch định chính sách có thể khai thác sự đánh đổi này bằng cách vận dụng các công cụ chính sách khác nhau. Thông qua việc thay đổi mức chi tiêu của chính phủ, thuế và lượng tiền in ra, trong ngắn hạn các nhà hoạch định chính sách có thể tác động vào hỗn hợp giữa lạm phát và thất nghiệp mà nền kinh tế phải đối mặt. Vì các công cụ này của chính sách tài khóa và tiền tệ có sức mạnh tiềm tàng như vậy, nên việc các nhà hoạch định chính sách sử dụng những công cụ này như thế nào để quản lý nền kinh tế vẫn còn là một đề tài tranh cãi.

Kiểm tra nhanh: Hãy liệt kê và giải thích ngắn gọn ba nguyên lý mô tả phương thức vận hành của nền kinh tế với tư cách một tổng thể.

KẾT LUẬN

Giờ đây bạn đã biết đôi chút về kinh tế học. Trong những chương tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm nhiều điều sâu sắc hơn về con người, thị trường và nền kinh tế. Để nắm được những vấn đề này, chúng ta cần phải nỗ lực một chút, nhưng chúng ta sẽ làm được. Kinh tế học dựa trên một số ít ý tưởng căn bản để từ đó có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau.

Xuyên suốt cuốn sách này, chúng ta sẽ còn quay lại với Mười Nguyên lý của kinh tế học đã được làm sáng tỏ trong chương này và tóm tắt trong bảng Bạn hãy nhớ rằng, ngay cả những phân tích kinh tế phức tạp nhất cũng được xây dựng trên nền tảng của mười nguyên lý này.

TÓM TẮT

_ Những bài học căn bản về ra quyết định cá nhân là: con người đối mặt với sự đánh đổi giữa các mục tiêu khác nhau, chi phí của bất kỳ hành động nào cũng được tính bằng những cơ hội bị bỏ qua, con người duy lý đưa ra quyết định dựa trên sự so sánh giữa chi phí và ích lợi cận biên, và cuối cùng là con người thay đổi hành vi để đáp lại các kích thích mà họ phải đối mặt.

_ Những bài học căn bản về sự tác động qua lại giữa con người với nhau là: thương mại (tức trao đổi) có thể đem lại ích lợi cho cả hai bên, thị trường thường là cách thức tốt phối hợp trao đổi buôn bán giữa mọi người, và chính phủ có thể cải thiện các kết cục thị trường khi một thất bại thị trường nào đó tồn tại hay khi kết cục thị trường không công bằng.

_ Những bài học căn bản về nền kinh tế với tư cách một tổng thể là: năng suất là nguồn gốc cuối cùng của mức sống, sự gia tăng lượng tiền là nguyên nhân cuối cùng của lạm phát và xã hội đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp.

B&B Investment.
Nguồn: Inter-Market Analysis Blog

—————————————————————-
Các bài viết phân tích chi tiết và tín hiệu giao dịch được update dành riêng cho khách hàng và học viên tại đây:
➡️ Dịch vụ tư vấn phân tích: https://goo.gl/pHMMEb
➡️ Khóa học online: https://goo.gl/3aEqyv

– Các bài phân tích cũ theo phương pháp phân tích liên thị trường:https://goo.gl/Fa

Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Ngọc Hải M.Pearlie

Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
Ngọc Hải M.Pearlie
My Profiles

Latest posts by Ngọc Hải M.Pearlie (see all)

Ngọc Hải M.Pearlie
Tôi là một Trader kiêm Financial Analytics độc lập. Tôi thích được chia sẻ những tư duy và kỹ năng phân tích của mình tới với tất cả mọi người. Đến với thị trường tài chính với tất cả những đam mê và tâm huyết. Không chỉ kiếm tiền cho bản thân mà còn giúp đỡ người khác giao dịch có lợi nhuận là mục đích của Blog này. Các bạn cảm thấy bài viết có giá trị đừng quên like, share và để lại nhận xét của mình tới với cộng đồng Trader Việt nhé! Thân ái!
http://intermarketanalysisblog.com